Việc tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất ra các sản phẩm hữu ích trong đời sống đang trở thành xu hướng phát triển bền vững trên toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Mới đây, tại Hội thảo “ ESG Xanh – Động lực tăng trưởng mới 2026” do Hội Doanh nhân Nữ TP HCM tổ chức đã thu hút nhiều chuyên gia, doanh nghiệp, diễn giả… tham dự và cùng nhau chia sẻ định hướng phát triển. Theo đó, đa số ý kiến cho rằng: Nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại Việt Nam khá lớn, nếu chúng ta biết đầu tư đúng hướng, có bài bản… không những giúp giảm thiểu lượng chất thải, mà còn mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp tuần hoàn, góp phần nâng cao giá trị kinh tế cho người nông dân và doanh nghiệp.
Đồng thời ý kiến của các diễn giả cho rằng: nếu có cơ chế hỗ trợ phù hợp và ứng dụng khoa học công nghệ hiệu quả, thì nguồn nguyên liệu tưởng chừng bỏ đi này hoàn toàn có thể trở thành “vàng nâu” đem lại giá trị kinh tế cao cho nông dân và doanh nghiệp. Cũng theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, mỗi năm Việt Nam tạo ra khoảng 160 triệu tấn phế phụ phẩm từ cây trồng, vật nuôi và chế biến nông sản. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30-40% trong số này được sử dụng cho các mục đích như làm phân bón hữu cơ, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu sinh khối…,phần còn lại bị thải bỏ hoặc đốt gây ô nhiễm môi trường.
Phụ phẩm nông nghiệp có thể tạo ra rất nhiều sản phẩm hữu ích – sản phẩm xanh trong cuộc sống như: Khí sinh học tạo ra từ chất thải chăn nuôi để phát điện là giải pháp năng lượng xanh không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính, mà còn giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên trong nông nghiệp; hay các phụ phẩm như rơm rạ, vỏ trấu, bã mía, lõi ngô, xơ dừa, bã cà phê hay vỏ hạt điều…có thể trở thành nguồn nguyên liệu quý để sản xuất nhiều sản phẩm thân thiện môi trường.
Trên thực tế, nhiều tổ chức, doanh nghiệp và các nhóm khởi nghiệp tại Việt Nam đã tiên phong triển khai những sáng kiến sáng tạo nhằm tận dụng phụ phẩm nông nghiệp sản xuất ở các lĩnh vực như: bao bì sinh học, vật liệu xây dựng, hàng thủ công mỹ nghệ, hay thời trang bền vững…Những mô hình này không chỉ thể hiện tinh thần đổi mới sáng tạo mà còn góp phần lan tỏa lối sống xanh, sản xuất xanh trong tiêu dùng xanh.

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Lê Duy Hoàng, nhà sáng lập Fuwa3e cho biết, ở khu vực Thanh Hóa, Ninh Bình và nhiều địa phương khác có vùng nguyên liệu dứa tương đối lớn. Sau khi thu hoạch, dứa được đưa về các nhà máy chế biến chỉ dùng phần ruột, trong khi phần vỏ trở thành phụ phẩm. Phần nguyên liệu tưởng như đã kết thúc vòng đời này lại trở thành điểm bắt đầu của một chu trình sản xuất mới, qua đó giảm lượng phụ phẩm và tạo thêm giá trị từ nguồn nguyên liệu sẵn có.
Ông Lê Duy Hoàng cho biết thêm, doanh nghiệp thu mua vỏ dứa, kết hợp với đường vàng và đưa vào quá trình lên men kéo dài khoảng 45-60 ngày. Dịch chiết thu được chứa hỗn hợp eco-enzyme, các acid và vitamin từ dứa, được sử dụng làm nguyên liệu nền để phát triển nhiều sản phẩm như dầu gội, sữa tắm, nước rửa chén, bát,…
Mô hình này cho thấy kinh tế tuần hoàn có thể bắt đầu ngay từ việc tổ chức lại nguồn nguyên liệu. Tư duy này cũng được Fuwa3e đưa vào quá trình lựa chọn các thành phần khác cho sản phẩm. Thay vì sử dụng chất lưu hương hay hương liệu công nghiệp, doanh nghiệp lựa chọn các loại tinh dầu bản địa như sả chanh, quế, bạc hà và hương nhu. Việc ưu tiên nguyên liệu trong nước tạo thêm đầu ra cho nông sản và tăng kết nối với người nông dân, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kiểm soát và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.
Tuy nhiên, yếu tố thân thiện với môi trường thôi chưa đủ để thuyết phục người tiêu dùng. Một sản phẩm “xanh” vẫn phải mang lại những lợi ích thiết thực trong quá trình sử dụng. Chẳng hạn, theo ông Hoàng, các sản phẩm rửa chén của Fuwa3e dễ được tráng sạch hơn, qua đó giảm lượng nước và thời gian sử dụng. Tính toán của doanh nghiệp cho thấy mỗi lần rửa có thể tiết kiệm khoảng 4 - 5 lít nước. Đồng thời vể môi trường, sản phẩm từ vỏ dứa trong 5 năm qua, công ty đã xử lý hơn 1.000 tấn vỏ dứa, tương đương giảm được 50 tấn methan, 2 triệu tấn Co2 được xử lý và tiết kiệm hơn 100 triệu lít nước…
Nếu với Fuwa3e, kinh tế tuần hoàn được đưa vào ngay từ cách lựa chọn nguyên liệu và phát triển sản phẩm, thì trong ngành kinh doanh nhà hàng, Pizza 4P’s lại bắt đầu từ chính cách tổ chức vận hành hằng ngày. Doanh nghiệp này định hướng tới mô hình nhà hàng không rác thải, trong đó việc giảm thiểu và xử lý chất thải được đưa vào các quy trình thường nhật.
Theo chia sẻ của bà Vương Nguyễn Minh Thư, Quản lý phát triển bền vững Pizza 4P’s, để mô hình này vận hành, rác tại nhà hàng được phân loại thành năm nhóm, với người chịu trách nhiệm cụ thể cho từng công việc, đi kèm mô tả công việc và chế độ đãi ngộ phù hợp. Song song với phân công trách nhiệm, các số liệu cũng được theo dõi và lưu lại liên tục để đánh giá hiệu quả vận hành của mô hình. Bởi theo bà Nguyễn Minh Thư, tại Pizza 4P’s, phát triển bền vững không chỉ là nhiệm vụ riêng của bộ phận phụ trách ESG mà được đưa trực tiếp vào công việc hằng ngày. Trong bối cảnh nhân sự liên tục thay đổi, việc đào tạo cũng phải diễn ra thường xuyên để cách vận hành không bị đứt gãy.

Đưa “xanh” vào sản phẩm hay vận hành mới chỉ là điểm khởi đầu. Để những lựa chọn này không dừng lại ở các sáng kiến riêng lẻ, hay thử nghiệm… doanh nghiệp còn phải chứng minh được hiệu quả kinh tế, từ khả năng thuyết phục khách hàng trả tiền, kiểm soát chi phí đến mở rộng thị trường và quy mô. Ông Hoàng thừa nhận, nếu lựa chọn những nguyên liệu và phương thức sản xuất thông thường, giá thành sản phẩm có thể thấp hơn, qua đó tiếp cận được tệp khách hàng rộng hơn. Ngược lại, lựa chọn những yếu tố thân thiện với môi trường có thể làm tăng chi phí và thu hẹp nhóm khách hàng sẵn sàng chi trả. Vì thế, bài toán của doanh nghiệp không chỉ là làm ra một sản phẩm “xanh”, mà còn phải chuyển những giá trị môi trường thành giá trị mà khách hàng có thể nhận biết và sẵn sàng trả tiền.
Với Fuwa3e, một phần lời giải nằm ở việc xác định nhóm khách hàng quan tâm đến sức khỏe, môi trường và nguồn gốc sản phẩm. Nhưng để tiếp cận được nhóm khách hàng này, doanh nghiệp vẫn phải đầu tư cho marketing và liên tục truyền thông để thị trường hiểu sản phẩm khác biệt ở đâu, vì sao có mức giá cao hơn và giá trị nào người tiêu dùng được nhận lại.
Quá trình xây dựng thị trường cũng cần thời gian, theo ông Hoàng, khoảng một năm rưỡi sau khi thành lập, Fuwa3e mới bắt đầu có lãi. Và khi thị trường dần được mở rộng, từ các sản phẩm chăm sóc gia đình, Fuwa3e phát triển thêm dòng chăm sóc trẻ em và chăm sóc cá nhân, qua đó mở thêm nguồn doanh thu. Lượng khách hàng lớn hơn đồng thời tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
Còn với Công ty CP Nhựa tái chế Duy Tân, giá thành và đầu ra lại là hai bài toán có quan hệ chặt chẽ. Ông Lê Anh, Giám đốc phát triển bền vững doanh nghiệp cho biết, nhựa tái chế hiện vẫn có giá thành cao hơn nhựa nguyên sinh. Doanh nghiệp đặt mục tiêu mỗi năm cải thiện khoảng 10% về giá thành và hiệu quả sử dụng. Trong khi đó, công suất nhà máy lên tới khoảng 100.000 tấn mỗi năm đòi hỏi một thị trường đủ lớn để hấp thụ sản lượng và phát huy hiệu quả quy mô. Vì vậy, Duy Tân không giới hạn ở một vài thị trường mà chủ động tìm kiếm khách hàng trên phạm vi toàn cầu, kết hợp cả các kênh trực tuyến và trực tiếp.
Trên thực tế, dù lựa chọn những hướng đi khác nhau, nhưng các doanh nghiệp đều phải giải cùng một bài toán là làm sao để giá trị môi trường có thể chuyển thành giá trị kinh tế. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp tìm được thị trường, thuyết phục khách hàng trả tiền, kiểm soát chi phí và chứng minh được hiệu quả trước khi mở rộng. Khi đó, “xanh” mới không chỉ là một lựa chọn về môi trường, mà thực sự trở thành một phần của bài toán kinh doanh.