Việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ tạo lập khung thể chế đồng bộ, hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định, mà còn khuyến khích sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa.
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được xây dựng gồm 9 Chương, 54 Điều nhằm hướng tới ba mục tiêu: Xác lập địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa như một ngành kinh tế tạo ra sản phẩm trên cơ sở kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ; kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp; thông qua sản phẩm và thị trường để quảng bá giá trị văn hóa và thương hiệu Việt Nam.

Theo đó, Dự thảo Luật không quy định lại các nội dung đã được luật chuyên ngành điều chỉnh, mà quy định các chính sách, cơ chế chung để phát triển các sản phẩm của ngành như điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc; phần mềm, nội dung số và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa, ẩm thực; thiết kế sáng tạo, thời trang, kiến trúc; truyền hình và phát thanh; xuất bản với tư cách sản phẩm của nền công nghiệp văn hóa; ưu tiên làm rõ các nội dung chưa cụ thể, bổ sung khoảng trống pháp lý và xử lý có chọn lọc các điểm nghẽn.
Dự thảo Luật quy định nội dung chính sách, nguyên tắc và thẩm quyền; quy trình, thủ tục kỹ thuật được giao cho Chính phủ hoặc Bộ trưởng quy định chi tiết, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách triệt để thủ tục hành chính, tạo môi trường kiến tạo phát triển công nghiệp văn hóa.
Dự thảo cũng xác định chủ thể sáng tạo là trung tâm, doanh nghiệp và thị trường trực tiếp tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh; Nhà nước thực hiện vai trò quản lý và tạo điều kiện phát triển. Quyền tài sản thuộc quyền tác giả, quyền liên quan và các quyền khai thác hợp pháp từ các quyền này được xác định là một trong những cơ sở hình thành giá trị kinh tế của sản phẩm công nghiệp văn hóa. Việc phát triển phải đồng thời bảo đảm các yêu cầu về hệ giá trị quốc gia, bản sắc văn hóa, di sản, quốc phòng và an ninh.
Nhìn nhận về nội dung Dự thảo, không ít ý kiến cho hay, việc xây dựng và ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ tạo lập khung thể chế đồng bộ, hành lang pháp lý rõ ràng và ổn định, mà còn khuyến khích sáng tạo, huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy phát triển thị trường văn hóa.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam Nguyễn Trường Sơn, việc xây dựng Dự án Luật trong bối cảnh hiện nay là cần thiết.
Thế nhưng, vị này đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh phù hợp với yêu cầu hội nhập. Với việc thành lập, mở rộng các tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa.
“Cần thống nhất với pháp luật về đất đai, quy hoạch, xây dựng, đồng thời bảo đảm hiệu quả, tính khả thi, tránh lãng phí”, Chủ tịch Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam lưu ý.
Tham gia góp ý Dự án Luật, ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Tập đoàn truyền thông Lê cho rằng, cần làm rõ khái niệm vốn văn hóa, chuyển từ cách tiếp cận khai thác tài nguyên sang đầu tư, chuyển hóa và tái sinh vốn văn hóa.
Chủ tịch Tập đoàn Truyền thông Lê đề nghị, xem kiến tạo thị trường công nghiệp văn hóa là nhiệm vụ trung tâm, trong đó doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo là lực lượng trực tiếp tạo ra sự phát triển, còn Nhà nước tập trung kiến tạo thể chế, hạ tầng dùng chung, dữ liệu, bảo vệ quyền, đào tạo và xúc tiến.
Bên cạnh đó, vị này cũng đề nghị, chuyển trọng tâm đầu tư công từ “xây dựng thiết chế” sang xây dựng năng lực của hệ sinh thái, đồng thời coi tái sinh vốn văn hóa là nguyên tắc phát triển bền vững.
Còn theo TS Ngô Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, các chính sách ưu đãi cần có trọng tâm, lựa chọn những ngành mũi nhọn để tập trung nguồn lực, đồng thời cụ thể hóa chính sách về thuế, đất đai, tín dụng, đầu tư, quỹ phát triển và huy động nguồn lực xã hội.
Vị chuyên gia này đề nghị, thúc đẩy quốc tế hóa, phát triển thị trường xuất khẩu sản phẩm văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa và tăng quyền chủ động cho địa phương trong thí điểm các mô hình phát triển. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế về kinh tế và dữ liệu văn hóa, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo và các mô hình kinh doanh mới.