VCCI đề xuất đưa doanh nghiệp Việt Nam vào trung tâm đối ngoại, biến mạng lưới quốc tế thành thị trường, dự án và cơ hội mới cho nền kinh tế.
Bên lề Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22, bà Trần Thị Lan Anh, Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp về cách đưa các kết nối đối ngoại đi vào thực chất, chuyển hóa thành cơ hội đầu tư, kinh doanh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

- Thưa bà, những năm qua công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đã mở rộng đáng kể không gian phát triển cho nền kinh tế. Bà đánh giá thế nào về vai trò của VCCI và cộng đồng doanh nghiệp trong tiến trình này?
Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Các bộ, ngành và địa phương ngày càng chủ động kiến tạo, mở rộng mạng lưới hợp tác quốc tế, đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu, mở ra nhiều cơ hội về đầu tư, thương mại, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong tiến trình đó, VCCI cùng các hiệp hội doanh nghiệp giữ vai trò cầu nối giữa Nhà nước, địa phương với cộng đồng doanh nghiệp trong nước và các đối tác quốc tế. Chúng tôi vừa đưa cơ hội hợp tác đến gần doanh nghiệp hơn, vừa phản ánh nhu cầu và tiếng nói của doanh nghiệp vào quá trình xây dựng, triển khai các chương trình hợp tác. Hiện VCCI triển khai hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư với hơn 100 tổ chức tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng hành cùng các bộ, ngành, địa phương đưa doanh nghiệp đến gần hơn với thị trường, đối tác và chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời thu hút nguồn lực quốc tế phục vụ đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
- Bên cạnh những kết quả tích cực, đâu là những trở ngại lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam còn gặp phải khi tham gia các mạng lưới hợp tác quốc tế?
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn trong quá trình hội nhập. Trước hết là năng lực cạnh tranh và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế còn hạn chế, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp cả nước. Nhiều doanh nghiệp còn thiếu thông tin về thị trường, đối tác, chưa nắm đầy đủ các quy định và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.
Cùng lúc đó, chi phí tuân thủ, chi phí logistics và các yêu cầu về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số ngày càng gia tăng. Một vấn đề khác là sự kết nối giữa các chương trình đối ngoại với nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp ở một số nơi chưa thật sự chặt chẽ. Thông tin về thị trường và đối tác không phải lúc nào cũng đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm, khiến nhiều cơ hội hợp tác chưa được chuyển hóa thành kết quả cụ thể. Đây chính là điểm nghẽn mà chúng tôi cho rằng cần tập trung tháo gỡ trong giai đoạn tới.
- Tại Hội nghị, Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị được khẳng định là định hướng nền tảng. Nghị quyết này đặt ra những yêu cầu gì, và có ý nghĩa ra sao đối với công tác của VCCI, thưa bà?
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên nhằm cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đại hội XIV, được quán triệt toàn quốc vào tháng 6/2026. Nghị quyết hướng tới giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, trên tinh thần kiên định độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu.
Điểm đột phá của Nghị quyết 06 là xác lập tư duy đối ngoại mới: không chỉ giữ vững môi trường hòa bình mà còn tiên phong mở rộng không gian phát triển, huy động nguồn lực quốc tế và chủ động tham gia định hình luật chơi toàn cầu. Cụ thể là mở rộng dư địa chiến lược cho phát triển, thu hút nguồn lực chất lượng cao về vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức, phục vụ các mục tiêu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, và chủ động tham gia định hình các thể chế, luật chơi quốc tế.
Với VCCI, tinh thần đó có ý nghĩa trực tiếp ở nhiều lĩnh vực: thúc đẩy ngoại giao kinh tế và hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường; phát huy vai trò của tổ chức đại diện doanh nghiệp và giới sử dụng lao động tại các diễn đàn quốc tế như ASEAN, APEC, ILO; huy động nguồn lực quốc tế cho chuyển đổi xanh, ESG, đổi mới sáng tạo và phát triển khu vực kinh tế tư nhân; cũng như tăng cường đóng góp xây dựng các quy tắc kinh tế quốc tế và thực thi các FTA thế hệ mới. Bốn nhóm giải pháp mà VCCI đề xuất tại Hội nghị chính là bước cụ thể hóa những định hướng này.
- Xin bà chia sẻ cụ thể hơn về những nhóm giải pháp này?
Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới không chỉ là tiếp tục mở rộng mạng lưới hợp tác, mà quan trọng hơn là khai thác hiệu quả những mạng lưới đã được kiến tạo, đưa cơ hội đến đúng doanh nghiệp và chuyển hóa các kết nối quốc tế thành kết quả cụ thể. Tại hội nghị, VCCI đề xuất bốn nhóm giải pháp nhằm đưa hoạt động đối ngoại đi vào thực chất và tạo giá trị trực tiếp cho doanh nghiệp.
Thứ nhất, đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu thiết kế các chương trình hợp tác quốc tế của bộ, ngành và địa phương. Cần chuyển từ tư duy có chương trình mới tìm doanh nghiệp sang xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp để thiết kế chương trình, qua đó xác định đúng thị trường, đúng đối tác, đúng lĩnh vực.
Thứ hai, tăng cường xây dựng, chia sẻ thông tin và kết nối liên thông giữa Bộ Ngoại giao, các bộ, ngành, địa phương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, VCCI và các hiệp hội. Thông tin về thị trường, đối tác, chính sách và xu hướng đầu tư cần được cập nhật kịp thời, có tính dự báo và đến đúng doanh nghiệp, đúng thời điểm.
Thứ ba, chuyển từ kết nối theo sự kiện sang kết nối theo chuỗi và theo kết quả. Mỗi hoạt động đối ngoại cần có cơ chế xuyên suốt: xác định nhu cầu và lựa chọn đối tác, kết nối thực chất, rồi theo dõi, hỗ trợ và đánh giá cho đến khi hình thành dự án, hợp đồng hoặc quan hệ hợp tác cụ thể.
Thứ tư, phát huy mạnh hơn vai trò của VCCI và các hiệp hội trong hệ sinh thái đối ngoại kinh tế, bao gồm việc nghiên cứu xây dựng hệ thống dữ liệu lớn về hợp tác quốc tế và ưu tiên triển khai Đề án thành lập VIETCHAM nhằm liên kết doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài thành một mạng lưới hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra toàn cầu (Go Global).
- Trong bối cảnh hiện nay, sứ mệnh của VCCI sẽ được tiếp nối và làm mới như thế nào, thưa bà?
VCCI không chỉ là ngôi nhà chung của cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp mà còn là cánh tay nối dài tin cậy của Đảng và Nhà nước trong hoàn thiện thể chế kinh tế và thúc đẩy hội nhập. Trong kinh tế học, thể chế được coi là nguồn lực của nguồn lực.
Một cơ chế minh bạch, thông thoáng có giá trị lớn hơn gấp nhiều lần các hỗ trợ tài chính trực tiếp, bởi đó là nền tảng khơi thông mọi nguồn lực phát triển và đó là lý do chúng tôi kiên trì đưa thực tiễn kinh doanh vào hơi thở của chính sách, pháp luật. Hơn 20 năm công bố Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI hay việc tham gia xây dựng các đạo luật xương sống như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đất đai đều đi theo tinh thần đó.
Bước sang năm 2026, sứ mệnh ấy được đặt trong một yêu cầu mới. Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân khẳng định khu vực này là một động lực quan trọng, đặt ra yêu cầu xóa bỏ rào cản, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch. VCCI xác định ba vai trò cốt lõi: người phản biện chính sách sắc sảo để mọi quy định đều mang hơi thở thị trường; người kết nối hiệu quả đưa doanh nghiệp Việt vào chuỗi cung ứng toàn cầu; và người truyền cảm hứng cho tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Song song, chúng tôi coi việc xây dựng đạo đức doanh nhân và văn hóa kinh doanh mang bản sắc Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược, tạo nên sức mạnh mềm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, VCCI sẽ tiếp tục là cầu nối giữa doanh nghiệp Việt Nam với thế giới; giữa thực tiễn kinh doanh với quá trình hoạch định chính sách; giữa khát vọng phát triển của cộng đồng doanh nghiệp với các cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại.
Mục tiêu cuối cùng là để mỗi hoạt động đối ngoại tạo thêm cơ hội đầu tư, mỗi mối quan hệ hợp tác mở ra một thị trường mới và mỗi doanh nghiệp Việt có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
- Trân trọng cám ơn bà!