Công nghệ

Ứng dụng công nghệ cobot: Cơ hội thu hút nhà đầu tư vào Việt Nam

Nguyễn Long 14/06/2019 00:01

Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung khiến nhiều doanh nghiệp như Foxconn sẵn sàng rời khỏi Trung Quốc. Đây được xem là cơ hội lớn cho Việt Nam, nhưng chúng ta sẽ tận dụng cơ hội này ra sao?

Căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc tăng cao đang đẩy nhanh việc chuyển hướng thương mại sang các thị trường đang phát triển khác, các công ty hàng đầu đang tìm kiếm nhà máy sản xuất mới với mức chi phí thấp hơn. Do lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên thiên nhiên và sản xuất thâm dụng lao động đã chống lại sự suy giảm xu hướng tự động hóa và trao đổi dữ liệu toàn cầu trong công nghệ sản xuất, Việt Nam phải nắm lấy sự gián đoạn không thể tránh khỏi của công nghiệp 4.0 để trở thành cường quốc công nghiệp ở Đông Nam Á.  Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp SMEs đang chưa thực sự sẵn sàng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Theo TS Lê Huy Khôi, Trưởng phòng Nghiên cứu và dự báo thị trường Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách (Bộ Công Thương) cho biết theo kết quả khảo sát 2.000 doanh nghiệp thuộc Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội cho thấy, có đến 79% doanh nghiệp trả lời chưa chuẩn bị cho cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chỉ có 12% doanh nghiệp đang triển khai các biện pháp thích ứng với 4.0. Khi vẫn ở công nghiệp 2.0 về công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với quá trình nhảy vọt khó khăn để tiến tới công nghiệp 4.0 trong tương lai. Sự tiến bộ chậm trong việc tự động hoá có thể do nhiều yếu tố, nhưng chi phí là yếu tố chính.

Các giải pháp tự động hoá

Các giải pháp tự động hoá thường được coi là tốn kém để xây dựng, cài đặt và bảo trì. Tuy nhiên, sự ra mắt robot hợp tác (cobot) đã góp phần giảm thiểu chi phí và sự phức tạp liên quan đến việc tích hợp các giải pháp tự động hoá vào các quy trình sản xuất.

Không giống những robot công nghiệp truyền thống được sử dụng rộng rãi để thay thế nguồn nhân lực, cobots được thiết kế để làm việc một cách an toàn cùng với con người. Các cánh tay robot gọn nhẹ có thể tích hợp vào chuỗi dây chuyền sản xuất với chi phí tích hợp tối mà không cần tác động mạnh đến cơ sở hạ tầng hiện có. Bên cạnh đó, các robot thân thiện với người dùng này được lập trình công nghệ 3D trực quan, cho phép những người vận hành chưa qua đào tạo nhanh chóng và dễ dàng lập trình các cobots nhiều ứng dụng, cho  nhiều ngành công nghiệp.

Được trang bị các tính năng an toàn, cobot có thể hoạt động chung với con người mà không bị trở ngại. Bằng cách đảm nhận các công việc nguy hiểm và vất vả, cobots giảm thiếu căng thẳng và những chấn thương, tai nạn cho người lao động, làm cho nơi làm việc trở nên an toàn hơn. Được giải thoát khỏi những công việc có giá trị thấp, người lao động có thể làm các công việc mới với kỹ năng và mức lương cao hơn, gia tăng tính cạnh tranh lực lượng lao động nói chung.

Cobots thường có tỷ suất hoàn vốn nhanh hơn so với các robot công nghiệp

Cobots thường có tỷ suất hoàn vốn nhanh hơn so với các robot công nghiệp (ảnh minh họa).

Tỷ suất hoàn vốn và thời gian hoàn vốn

Có thể hiểu, hiệu quả chi phí của việc tự động hóa phải được đánh giá kỹ lưỡng cho các doanh nghiệp để thực hiện công nghệ lý tưởng cho các quy trình liên quan.

Đánh giá tỷ suất hoàn vốn (ROI) của việc tự động hóa không chỉ đơn giản được tính bằng cách chia chi phí robot cho tiền lương hàng tháng của công nhân để xác định thời gian hoàn vốn. Để đánh giá chính xác hơn, các doanh nghiệp nên đánh giá tổng thể những lợi ích ngắn hạn và dài hạn, đã được xác định hoặc những lợi ích chưa rõ ràng của đầu tư tự động hóa. Các chi phí liên quan đến nhân viên bao gồm đào tạo và lợi ích, chi phí và tuổi thọ của công nghệ cũng là một số cần được cân nhắc.

Cobots thường có tỷ suất hoàn vốn nhanh hơn so với các robot công nghiệp, với Universal Robots (UR) cobots trung bình thời kì hoàn vốn là 12 tháng. Không giống robot truyền thống với qui mô lớn và chỉ chuyên về một lĩnh vực, các cobots tiết kiệm không gian hơn và có thể dễ dàng triển khai sử dụng cho nhiều công việc mà không cần thay đổi mô hình sản xuất sẵn có. Sự linh hoạt này rất phù hợp với những sản xuất nhỏ và thay đổi thường xuyên, giúp tự động hóa dễ dàng hơn bao giờ hết, ngay cả đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Công ty cổ phần công nghiệp ô tô Vinacomin (VMIC), có nhà máy trụ sở ở Quảng Ninh, đã triển khai UR cobots trong sản xuất phụ tùng cho các phương tiện vận tải. Kể từ khi triển khai cobot đầu tiên của họ vào tháng 7 năm 2018, công ty đã chứng kiến sự gia tăng năng suất 30%, với những cải tiến lớn về chất lượng sản phẩm trong thời gian chỉ ba tháng.

Có mặt tại Việt Nam từ năm 2016, UR cobots đang dẫn đầu trong công nghiệp chế tạo robot bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ các lợi ích tự động hoá mà không cần phải lo ngại về giá thành và nhân lực để chuẩn bị cho bước tiến vào công nghiệp 4.0 trong tương lai.

Tuy nhiên, khi Việt Nam thúc đẩy công nghệ tự động hoá, việc thiếu hụt công nhân lành nghề và năng lực công nghệ hạn chế có thể làm sự chuyển đổi sang ngành công nghiệp sản xuất công nghệ cao hơn trở nên khó khăn. Vào năm 2018, 40% công ty của FDI đã báo cáo những khó khăn trong việc tìm kiếm công nhân có kinh nghiệm. Vì thế, giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp phù hợp với nhu cầu công nghiệp hiện nay và ngày càng quan trọng để chuẩn bị cho những thay đổi trong tương lai của lực lượng lao động.

Với những rào cản ngày càng thấp với việc tự động hoá, tiến bộ nhanh chóng trong việc áp dụng robot sẽ đưa Việt Nam đi đúng hướng để hiện thực hóa tham vọng Công nghiệp 4.0.

Nguyễn Long