Đòn bẩy tài chính từ tín chỉ carbon: Động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh
Tín chỉ carbon không chỉ ghi nhận nỗ lực vì môi trường mà còn được “lượng hoá”, trở thành đòn bẩy tài chính tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất bền vững.
Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các bộ ngành liên quan chuẩn bị cơ sở pháp lý, cơ sở hạ tầng để thành lập sàn giao dịch carbon trong nước với hai loại hàng hoá được đề xuất giao dịch là hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, PGS TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách nông nghiệp và môi trường nhấn mạnh: Khai thác hiệu quả các cơ hội từ tín chỉ carbon, doanh nghiệp có thể nhận được nguồn lực tài chính lớn, thúc đẩy chuyển đổi công nghệ, gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá xuất khẩu và góp phần thực hiện mục tiêu Netzero vào năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết.
- Phát triển thị trường carbon đóng vai trò thế nào trong việc tái cấu trúc động lực tăng trưởng từ xuất khẩu theo hướng bền vững, thưa ông?
Với diện tích rừng và biển rất lớn tạo cho Việt Nam nguồn cung tín chỉ carbon dồi dào. Các ngành hàng chủ lực xây dựng chiến lược phát triển dựa trên bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa bản địa vừa tạo ra hàng hoá sản phẩm xanh, có trách nhiệm, góp phần gia tăng giá trị hàng hoá xuất khẩu vừa có cơ hội tham gia vào thị trường giao dịch tín chỉ carbon để gia tăng lợi nhuận.

Ngoài lợi thế tự thân, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu đang khiến cho việc định giá carbon và thiết lập thị trường carbon trở nên bắt buộc, cấp bách. Từ năm 2026, châu Âu chính thức áp thuế CBAM với 5 nhóm sản phẩm là sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón hoá học và hydro. Các doanh nghiệp không tham gia giao dịch tín chỉ carbon nội địa, không mua bán tín chỉ carbon trong nước thì khi xuất khẩu sang châu Âu sẽ không được khấu trừ chi phí carbon.
Hàng hóa Việt Nam không chỉ kém cạnh tranh, không chứng minh xuất xứ xanh, Nhà nước còn có thể mất đi nguồn thu hợp pháp từ tín chỉ carbon - vốn có thể được hạch toán và khấu trừ theo quy định CBAM khi chúng ta có thị trường carbon minh bạch và vận hành hiệu quả. Tôi muốn chia sẻ thêm, ở cấp độ quốc gia, thị trường carbon được xác định là công cụ then chốt để huy động nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh, giảm phát thải và hiện thực hoá mục tiêu Netzero vào năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết.
Tại COP 29, thế giới cam kết hỗ trợ 300 tỷ USD/năm cho các nước đang phát triển và định hướng đến năm 2035 nguồn tài chính này tăng lên 1.300 tỷ USD/năm. Một phần đáng kể trong số đó sẽ đến từ các nguồn tài chính sáng tạo, tài chính xanh. Không phát triển thị trường tín chỉ carbon để tận dụng cơ hội, nguồn lực này sẽ chuyển về các quốc gia khác.
- Những nhóm doanh nghiệp nào tham gia đầu tiên tại sàn giao dịch tín chỉ carbon thí điểm dự kiến sẽ vận hành vào cuối năm nay, thưa ông?
Theo quy định, hơn 2.166 doanh nghiệp đang kiểm kê phát thải khí nhà kính sẽ báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường tháng 10-11 tới. 150 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sắt thép, xi măng, nhiệt điện… sẽ tham gia thị trường carbon trong giai đoạn đầu tiên - giai đoạn thí điểm từ năm 2025 đến năm 2028. Hiện Bộ Nông nghiệp và Bộ Tài chính đang xây dựng cơ sở dữ liệu đăng ký tín chỉ carbon, đăng ký giảm phát thải, xây dựng sàn giao dịch, hạ tầng lưu ký… để sắp tới Nghị định về sàn tín chỉ carbon sẽ được ban hành làm cơ sở cho doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ carbon.
- Từ kinh nghiệm quốc tế, theo ông, đâu là những yêu cầu đặt ra để vận hành sàn tín chỉ carbon hiệu quả?
Để huy động được các nguồn lực tài chính khí hậu và thị trường carbon vận hành hiệu quả, Việt Nam cần hội đủ 3 điều kiện: có nguồn tài chính xanh, có công nghệ xanh và có năng lực hấp thụ, chuyển giao và vận hành công nghệ xanh. Trong các yếu tố này, điểm yếu lớn nhất của Việt Nam là năng lực con người để tiếp nhận, triển khai công nghệ, tài chính xanh. Nguồn tài chính khí hậu, tài chính xanh trên thế giới là rất lớn, do vậy, trong thời gian tới, quan trọng nhất cần tập trung đào tạo tăng cường chất lượng nguồn nhân lực thông qua hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế.
Đội ngũ nhân lực được đào tạo bao gồm cán bộ trong các cơ quan Nhà nước, các chuyên gia am hiểu chuẩn mực tín chỉ carbon có khả năng xây dựng chuỗi giá trị carbon. Việc đào tạo cần hướng đến các doanh nghiệp để hỗ trợ kiến thức, kỹ thuật tham gia thị trường tín chỉ carbon và cộng đồng dân cư.
Bên cạnh đó, nội dung cơ bản nhất của thị trường là hệ thống giao dịch, thành viên tham gia thị trường và đặc biệt là hàng hoá giao dịch. Để tạo nguồn hàng, cần sớm ban hành khung pháp lý rõ ràng và các quy định cụ thể liên quan đến công cụ MRV (đo lường, báo cáo, xác minh kiểm kê khí nhà kính) đảm bảo minh bạch, đồng thời hình thành các tín chỉ carbon thông qua chuyển đổi công nghệ, giảm phát thải của doanh nghiệp. Trong đó, cần có cơ chế chia sẻ từ công cụ MRV đến hệ thống đào tạo truyền thông để hỗ trợ tiếp cận cho phần đông doanh nghiệp SME. Hiện, công cụ MRV chủ yếu phục vụ các doanh nghiệp lớn có đủ nguồn lực chi trả trong khi các doanh nghiệp SME gần như không thể tiếp cận do chi phí khá lớn.
Với những điều kiện này cùng với việc liên kết thị trường quốc tế, thị trường carbon có thể trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam.
- Trân trọng cảm ơn ông!