Cà phê doanh nhân
Cần xem xét lại chính sách thuế đối với nhân điều nhập khẩu
Để bảo vệ sản xuất trong nước, cần xem xét lại chính sách thuế đối với nhân điều nhập khẩu, không nên tiếp tục miễn thuế hoàn toàn.
Ông Bạch Khánh Nhựt - Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS).
Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu ngành điều đạt khoảng 4 tỷ USD. Đến hết 11 tháng năm 2025, con số này đã đạt 4,95 tỷ USD và chắc chắn cả năm sẽ vượt mốc 5 tỷ USD – lần đầu tiên trong lịch sử ngành. So với nhiều ngành khác, quy mô này có thể còn khiêm tốn, nhưng đối với lĩnh vực nông nghiệp thì đây là kết quả rất đáng ghi nhận, nhất là khi ngành điều đã duy trì đà tăng trưởng liên tục trong nhiều năm.

Mặc dù vậy, nguồn nguyên liệu trong nước hiện chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu của ngành, trong khi tới 90% nguyên liệu phải nhập khẩu từ các quốc gia châu Phi và Campuchia – những nước có sản lượng điều thô lớn. Trước đây, điều này được xem là bình thường, bởi Việt Nam đã nhập khẩu điều thô để chế biến trong gần 25 năm qua.
Tuy nhiên, khoảng 5 năm trở lại đây, các nước châu Phi đã học được mô hình kinh tế của Việt Nam. Thay vì bán điều thô, họ bắt đầu đầu tư chế biến để xuất khẩu nhânđiều, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Vì vậy, các nước này dần chuyển sang tự chế biến tại chỗ.
Điều đáng lo ngại là trong quy trình chế biến nhân điều, có 30% là khâu xử lý thủ công, đòi hỏi tay nghề khéo léo, sự cần mẫn của công nhân để sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đây là khâu mà hiện nay Việt Nam vẫn làm tốt nhất.
Do chưa làm chủ được công đoạn này, các nước châu Phi đã chuyển phần khó nhất về Việt Nam để gia công, tái chế. Điều đó dẫn tới thực trạng trong 4-5 năm gần đây, Việt Nam đang dần trở thành nơi gia công cho các nước châu Phi, thực hiện khâu cuối cùng rồi xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Hệ quả là họ không cần mở rộng thêm nhà máy, không cần tăng năng lực chế biến trong nước, bởi đã có “xưởng gia công” là Việt Nam. Sản xuất bao nhiêu thì tiêu thụ bấy nhiêu.
Theo số liệu của Hải quan, từ năm 2020, các nước châu Phi chỉ nhập khẩu vài chục ngàn tấn nhân điều. Tuy nhiên, đến hết 11 tháng năm 2025, con số này đã tăng lên khoảng 150.000 tấn nhân điều, tương đương khoảng 700.000 tấn điều thô. Trong khi đó, sản lượng điều thô nội địa của Việt Nam chỉ khoảng 400.000 tấn, tức là các nước châu Phi đã chế biến nhiều hơn Việt Nam.
Số liệu Hải quan cũng cho thấy mỗi năm lượng nhân điều chưa tái chế nhập khẩu vào Việt Nam đều tăng. Nếu xu hướng này tiếp tục, đến một thời điểm nhất định, các nước châu Phi sẽ hoàn thiện toàn bộ chuỗi sản xuất và xuất khẩu trực tiếp. Khi đó, ngành công nghiệp điều của Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.
Trong bối cảnh đó, chúng tôi kiến nghị, cần tăng cường đàm phán thương mại song phương; xem xét lại chính sách thuế đối với nhân điều nhập khẩu, không nên tiếp tục miễn thuế hoàn toàn. Khi áp dụng thuế, lượng nhập khẩu sẽ giảm, qua đó tạo điều kiện bảo vệ sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó, cần xem xét áp dụng mức giá nhập khẩu tối thiểu đối với nhân điều, tương tự cách mà Ấn Độ đang thực hiện. Trước đây, Ấn Độ từng áp thuế 25% đối với nhân điều nhập khẩu từ Việt Nam, khiến doanh nghiệp không thể nhập khẩu nhằm bảo vệ sản xuất nội địa. Đây là bài học thực tế mà Việt Nam có thể tham khảo.
Cùng với đó là cần cân nhắc áp dụng các hàng rào kỹ thuật, thiết lập tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng và an toàn thực phẩm để kiểm soát hàng nhập khẩu. Khi tiêu chuẩn được nâng cao, nhiều lô hàng hoặc nhà máy không đạt chuẩn sẽ không thể xuất khẩu vào Việt Nam, qua đó góp phần bảo vệ ngành sản xuất trong nước.