Chính trị

Chính trị

Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đại hội I - Dấu mốc tái lập cơ quan lãnh đạo Trung ương

Nguyễn Giang 08/01/2026 07:17

Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 95 năm qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu.

Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, Đảng luôn thể hiện rõ bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, là một khối thống nhất về ý chí và hành động, từ đó lãnh đạo, chỉ đạo cả hệ thống chính trị nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Đồng thời, thông qua quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng được tôi luyện và ngày càng trưởng thành, vững mạnh, xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lãnh đạo cách mạng và sự tin cậy, kỳ vọng của Nhân dân.

dau-an-cac-ky-dai-hoi-cua-dang-cong-san-viet-nam-ky-1-dai-hoi-i.jpg
Macau (Trung Quốc), nơi diễn ra Đại hội lần thứ I của Đảng (27 - 31/3/1935). Ảnh: TTXVN

Thực tiễn đó khẳng định: Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực, bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín để lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhằm cung cấp cho cán bộ, đảng viên và bạn đọc cái nhìn hệ thống, chuẩn xác về những quyết sách chiến lược, dấu mốc trưởng thành và bài học lịch sử trong hành trình lãnh đạo cách mạng của Đảng suốt 95 năm qua, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp khởi đăng chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” với mục tiêu cung cấp chuỗi tư liệu lịch sử, phân tích những dấu mốc và quyết sách mang tính định hình trong tiến trình cách mạng và phát triển đất nước, giúp bạn đọc nhìn lại hành trình trưởng thành của Đảng qua từng kỳ đại hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (1935): Khôi phục tổ chức, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất tổ chức, phát động và lãnh đạo các phong trào cách mạng trong phạm vi cả nước, với đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Tuy nhiên, phong trào cách mạng 1930 - 1931 bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, khiến phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.

Trong những năm 1932 - 1935, các đảng viên còn lại đã tích cực hoạt động, kiên trì chắp nối cơ sở, bí mật hoạt động khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng, gây dựng lại phong trào. Những cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động ở nước ngoài được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, cũng tích cực hoạt động khôi phục phong trào cách mạng, xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng. Tháng 3/1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, đóng vai trò “người lãnh đạo, người tổ chức” phong trào cách mạng ở Đông Dương. Đến đầu năm 1935, hệ thống tổ chức Đảng trong nước đã được phục hồi, phong trào cách mạng từng bước phát triển.

Sự khôi phục và phát triển của phong trào cách mạng Đông Dương, vừa tạo các điều kiện, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách về tiến hành Đại hội Đảng để đề ra đường lối, xây dựng lại cơ quan lãnh đạo Trung ương, kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng, trong bối cảnh tình hình thay đổi nhanh chóng.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp từ ngày 27 - 31/3/1935, tại một địa điểm ở phố Quan Công - Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thuộc các đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài đại diện cho 552 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã thảo luận và thông qua Luận cương Chính trị và 12 nghị quyết quan trọng: các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính; nghị quyết về mặt trận phản đế, nghị quyết về đội tự vệ, về công tác trong các dân tộc thiểu số,...; 6 bản điều lệ (Điều lệ của Đảng Cộng sản, điều lệ của các tổ chức quần chúng của Đảng), một số văn kiện khác và Thư gửi Chấp ủy Quốc tế Cộng sản, gửi các Đảng Cộng sản Liên Xô, Ấn Độ, Xiêm. Tuyên ngôn của Đại hội gửi những người lao động trong nước.

Luận cương chính trị của Đại hội đã đánh giá khái quát tình hình thế giới, tình hình Đông Dương và phong trào cách mạng, công tác tổ chức và lãnh đạo của Đảng; khẳng định, hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục; các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo có bước phục hồi, thúc đẩy tinh thần đấu tranh của quần chúng công nông.

Nghị quyết chính trị đề ra ba nhiệm vụ chính mà toàn Đảng phải tập trung thực hiện là: “a) Củng cố và phát triển Đảng. b) Thâu phục quảng đại quần chúng lao động. c) Chống đế quốc chiến tranh”. Nghị quyết xác định nhiệm vụ của Đảng: “… trong công tác hằng ngày của mình, cần biết rằng nhiệm vụ nào là chính yếu để tập trung đại lực của mình vào đấy”. Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa I, gồm 13 đồng chí (9 chính thức và 4 dự bị). Ban Chấp hành Trung ương cử ra Ban Thường vụ, gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Hồng Phong (Litvinốp) làm Tổng Bí thư.

Đại hội thông qua Điều lệ của Đảng Cộng sản Đông Dương, gồm 59 điều, qui định về tên Đảng, về tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ của đảng viên, về điều kiện vào Đảng, về tổ chức, nguyên tắc tổ chức của Đảng, về tài chính, về đảng đoàn và nhiệm vụ của đại biểu Đảng đối với tổ chức Thanh niên Cộng sản. Điều lệ quy định tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương, là phân bộ của Quốc tế Cộng sản.

Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; sự khôi phục và thống nhất phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân; củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ quốc tế của Đảng.

Đại hội thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Đảng, đem lại cho toàn thể đảng viên và quần chúng nhân dân niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, chuẩn bị lực lượng đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống nguy cơ chiến tranh và chủ nghĩa phát xít những năm 1936 - 1939; tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939 - 1945, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

----------------------------------------

* Nguồn: Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.192-193.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[4] Xem Học viện Chính trị quốc gia, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 319.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.

[9] Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr 486.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 512.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 524.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 21, tr. 951.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr. 471.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr.523-524.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.50.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.53.

[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.

[18]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.

[19]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381.

[20]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399.

[21]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.9.

[23] Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.67-68.

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 80.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.86.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, tr.68.

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, H,2006, tr.23

[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.177.

[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.71.

[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 65.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 66.

[33] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.1, tr. 25.

(Còn tiếp)

Nguyễn Giang