Chính trị

Chính trị

Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đại hội VII - Giữ vững đổi mới trong biến động

Nguyễn Giang 13/01/2026 05:00

Đại hội VII năm 1991 diễn ra trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc, khẳng định và phát triển đường lối đổi mới, xác lập cương lĩnh và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam…

Hà Nội, tháng 6/1991. Khi mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, trật tự thế giới biến động sâu sắc, Việt Nam đứng trước thử thách lớn về con đường phát triển. Trong bối cảnh đó, Đại hội VII của Đảng được triệu tập để khẳng định và phát triển đường lối đổi mới, làm rõ con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam.

dau-an-cac-ky-dai-hoi-toan-quoc-cua-dang-cong-san-viet-nam-dai-hoi-vii-1.jpg
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 - 27/6/1991. Ảnh tư liệu: TTXVN

Việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đã trở thành dấu mốc tư tưởng quan trọng, tạo nền tảng chính trị cho quá trình đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991): Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực hết sức phức tạp, tác động mạnh mẽ, sâu sắc, bất lợi nhiều mặt đến Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, của xu thế toàn cầu hóa, một mặt tạo cơ hội phát triển cho tất cả các quốc gia, đồng thời, đặt ra những thách thức lớn. Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc và tôn giáo, các hoạt động can thiệp, bạo loạn lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi.

Ở trong nước, đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra đã đi vào cuộc sống tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đưa đến những thắng lợi bước đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn diễn biến phức tạp; các thế lực phản động ra sức lợi dụng những khó khăn của nước ta, dùng nhiều thủ đoạn phá hoại công cuộc đổi mới.

Tình hình trên đặt ra cho Đảng phải khẳng định và phát triển đường lối đổi mới, hình thành rõ nét con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đề ra đường lối, chủ trương thúc đẩy, công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, ngăn chặn những ảnh hưởng bất lợi từ sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.

Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 - 27/6/1991. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu, đại diện cho hơn 2,1 triệu đảng viên của Đảng.

Với tinh thần “Trí tuệ - Đổi mới - Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết”[22], Đại hội tiến hành đánh giá kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới và đề ra những phương hướng nhiệm vụ chủ yếu trong những năm trước mắt. Đại hội đánh giá: công cuộc đổi mới đã đạt những thành tựu bước đầu quan trọng, chứng tỏ đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp; đất nước có những thuận lợi mới, đồng thời đang đứng trước những thử thách rất gay gắt, chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và vẫn có những nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị không thể coi thường.

Đại hội đúc kết năm bài học kinh nghiệm của bước khởi đầu tiến trình đổi mới: Giữ định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới; Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước; Dân chủ có lãnh đạo; Kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, không ngừng hoàn chỉnh lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát và phương châm chỉ đạo 5 năm 1991 - 1995 là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định các mục tiêu cụ thể và phương châm chỉ đạo trên các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,…

Đại hội thảo luận và thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2000 cùng nhiệm vụ, giải pháp, chính sách đồng bộ để thực hiện.

Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh tổng kết tiến trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và nêu ra những bài học có tính quy luật đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta: Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế; Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

dau-an-cac-ky-dai-hoi-toan-quoc-cua-dang-cong-san-viet-nam-dai-hoi-vii-2.jpg
Đại hội VII có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục khẳng định, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam. Ảnh tư liệu: TTXVN

Cương lĩnh xác lập những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng: Do Nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Cương lĩnh nêu ra bảy phương hướng cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh; quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.

Cương lĩnh cũng đề ra những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh: Để đảm đương vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải thường xuyên, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng,…

dau-an-cac-ky-dai-hoi-toan-quoc-cua-dang-cong-san-viet-nam-dai-hoi-vii-3.jpg
Đồng chí Đỗ Mười với các đại biểu dự Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam (24-27/6/1991). Ảnh tư liệu: TTXVN

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VII gồm 146 đồng chí. Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội VII có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục khẳng định, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam, đề ra những chủ trương, giải pháp cụ thể đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cương lĩnh do Đại hội thông qua là ngọn cờ chiến đấu dẫn dắt sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng trong giai đoạn tiếp theo.

(Còn tiếp)

----------------------------------------

* Nguồn: Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.192-193.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[4] Xem Học viện Chính trị quốc gia, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 319.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.

[9] Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr 486.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 512.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 524.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 21, tr. 951.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr. 471.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr.523-524.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.50.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.53.

[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.

[18]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.

[19]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381.

[20]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399.

[21]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.9.

[23] Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.67-68.

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 80.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.86.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, tr.68.

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, H,2006, tr.23

[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.177.

[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.71.

[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 65.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 66.

[33] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.1, tr. 25.

Nguyễn Giang