Kinh tế
Nghị quyết 01/NQ-CP: Quyết tâm tăng tốc, hướng tới tăng trưởng GDP từ 10% năm 2026
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.
2026 - năm bản lề tăng trưởng
Năm 2026 được xác định là năm khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, là năm diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, phấn đấu tăng trưởng 2 con số.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung điều hành quyết liệt, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm theo chủ đề xuyên suốt của năm.
Trong đó, quan điểm chỉ đạo đầu tiên là quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với tinh thần "Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè giúp đỡ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi".
Tiếp đó, Chính phủ yêu cầu giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá; bám sát thực tiễn, nhận diện và phát huy hiệu quả mọi cơ hội, thuận lợi; kịp thời ứng phó với những vấn đề phát sinh.
Một định hướng lớn khác được đặt ra là đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực; giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính. Phát triển các thành phần kinh tế, kết hợp hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.
Cùng với đó, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước gắn với phân cấp, phân quyền; tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.
Chính phủ đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.
12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo nêu trên, Nghị quyết xác định 12 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội năm 2026.
Một là, tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Hai là, tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
Ba là, tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ.
Bốn là, chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế.
Năm là, tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng; thúc đẩy các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số; điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh mới.
Sáu là, tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.
Bảy là, chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.
Tám là, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
Chín là, tăng cường liên kết vùng, thực hiện hiệu quả quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; nâng cao chất lượng đô thị hoá và kinh tế đô thị.
Mười là, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tiếp tục xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Mười một là, khai đồng bộ, hiệu quả, toàn diện công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.
Mười hai là, chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng, khuyến khích đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả công tác dân vận.
Giao nhiệm vụ, tiến độ, trách nhiệm người đứng đầu
Chính phủ giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tổ chức triển khai quyết liệt, kịp thời, hiệu quả Kết luận số 199-KL/TW ngày 10/10/2025 của Trung ương; Nghị quyết số 244/2025/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2026; Nghị quyết số 245/2025/QH15 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 cùng các nghị quyết có liên quan.
Người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.
Theo yêu cầu của Chính phủ, chậm nhất trước ngày 20/01/2026, các bộ, ngành, địa phương phải ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động và các văn bản triển khai Nghị quyết; trong đó xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ thực hiện, đơn vị chủ trì, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2026.
Chính phủ cũng yêu cầu xây dựng kịch bản tăng trưởng theo quý và cả năm 2026 đối với từng ngành, lĩnh vực. Các địa phương rà soát, xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP năm 2026 theo 3 khu vực kinh tế, 21 ngành cấp I và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm theo từng quý, gửi Bộ Tài chính trong tháng 02/2026 để tổng hợp, theo dõi.
Đối với các địa phương có mục tiêu tăng trưởng GRDP thấp hơn mức đề ra tại Nghị quyết, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được giao nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực và năng lực tăng trưởng mới, đề xuất giải pháp cụ thể, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp trong tháng 02/2026 để xem xét điều chỉnh mục tiêu phù hợp.