Chính trị

Chính trị

Đảng Cộng sản Việt Nam trong dòng chảy lịch sử dân tộc: Bài 2 - Nhân tố quyết định mọi thắng lợi

Nguyễn Giang 02/02/2026 11:53

Lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định một quy luật xuyên suốt: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi, được kiểm chứng qua thực tiễn đấu tranh, xây dựng, phát triển đất nước.

Trước khi Đảng ra đời, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển mạnh mẽ, thể hiện ý chí quật cường và khát vọng độc lập của dân tộc. Song thực tiễn cũng chỉ ra một giới hạn lịch sử: các phong trào yêu nước giàu tinh thần hy sinh nhưng thiếu thống nhất về đường lối, thiếu một tổ chức lãnh đạo đủ bản lĩnh và trí tuệ để quy tụ lực lượng, định hướng hành động và tạo thế chủ động chiến lược. Nói cách khác, lòng yêu nước là nguồn lực to lớn, nhưng nếu không có trung tâm lãnh đạo thống nhất thì khó chuyển hóa thành sức mạnh cách mạng có hiệu quả.

dang-cong-san-viet-nam-trong-dong-chay-lich-su-dan-toc-bai-2-1.jpg
Lịch sử cách mạng Việt Nam khẳng định một quy luật xuyên suốt: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi, được kiểm chứng qua thực tiễn đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước. Ảnh tư liệu

Sự ra đời của Đảng đã đáp ứng yêu cầu khách quan đó và mở ra một thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ được xác lập ở thời điểm ra đời, mà được khẳng định liên tục bằng năng lực dẫn dắt cách mạng trong từng chặng đường lịch sử. Điều làm nên tính quyết định của vai trò ấy trước hết nằm ở khả năng xác định đúng đường lối cách mạng: đường lối phù hợp với điều kiện lịch sử của Việt Nam, phản ánh đúng yêu cầu giải phóng dân tộc, đồng thời hòa vào xu thế tiến bộ của thời đại. Nhờ đường lối đúng, cách mạng Việt Nam có mục tiêu rõ ràng, phương hướng thống nhất và khả năng huy động sức mạnh của toàn xã hội cho nhiệm vụ trung tâm của từng thời kỳ.

Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Vai trò ấy không chỉ được khẳng định qua những dấu mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, mà còn tiếp tục thể hiện giá trị định hướng đối với sự phát triển của đất nước. Giữ vững và không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo vì thế là điều kiện có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững trong những chặng đường tiếp theo.

Cùng với đại đoàn kết, mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhân dân là nguồn lực cốt lõi làm nên tính quyết định của vai trò lãnh đạo. Đảng sinh ra từ phong trào của Nhân dân, tồn tại và phát triển trong lòng Nhân dân, lấy lợi ích của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Mối quan hệ đó vừa là nền tảng chính trị – xã hội, vừa là thước đo hiệu quả lãnh đạo. Khi Đảng giữ vững được mối liên hệ mật thiết ấy, niềm tin xã hội được củng cố, đồng thuận xã hội được tăng cường và các chủ trương, đường lối có điều kiện đi vào cuộc sống.

Bên cạnh đó, một nội dung mang ý nghĩa quyết định cũng đã được khẳng định qua thực tiễn là việc tự soi, tự sửa, tự hoàn thiện. Lịch sử cho thấy không có lực lượng lãnh đạo nào đứng ngoài nguy cơ suy thoái nếu không thường xuyên tự soi, tự sửa. Vì vậy, việc kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện làm suy giảm niềm tin của Nhân dân; kiên trì xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; đề cao kỷ luật, kỷ cương; và coi trọng nêu gương… là những yếu tố trực tiếp củng cố vai trò lãnh đạo. Khi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện nghiêm túc và hiệu quả, sức chiến đấu của tổ chức Đảng được tăng cường, năng lực lãnh đạo và sức thuyết phục được nâng lên.

Từ những luận cứ đó có thể khẳng định: vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Nhân tố quyết định ấy được cấu thành bởi ba trụ cột liên kết chặt chẽ: đường lối đúng đắn; tổ chức thực hiện hiệu quả; và mối quan hệ gắn bó mật thiết với Nhân dân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Trong từng giai đoạn lịch sử, ba trụ cột ấy được cụ thể hóa bằng những quyết sách, tổ chức và phương thức lãnh đạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn, tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam vượt qua thử thách, giành thắng lợi và phát triển.

Tuy vậy, đường lối đúng đắn chỉ phát huy giá trị khi được tổ chức thực hiện một cách khoa học và nhất quán. Vì thế, vai trò lãnh đạo của Đảng còn được thể hiện rõ ở năng lực tổ chức, chỉ đạo và điều hành thực tiễn. Thông qua hệ thống tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh và phương thức lãnh đạo phù hợp, Đảng đã biến chủ trương thành hành động, biến mục tiêu thành chương trình, biến tinh thần yêu nước thành lực lượng cách mạng có tổ chức. Chính yếu tố tổ chức là “khâu then chốt” giúp phong trào cách mạng vượt qua tình trạng tự phát, manh mún để trở thành phong trào tự giác, thống nhất và có khả năng tạo ra bước ngoặt.

dang-cong-san-viet-nam-trong-dong-chay-lich-su-dan-toc-bai-2-2.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp để nghe Tổng Quân ủy báo cáo và duyệt lần cuối kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954, đồng thời quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là minh chứng tiêu biểu cho vai trò lãnh đạo mang tính quyết định của Đảng. Trong một thời điểm lịch sử có tính bản lề, Đảng đã đánh giá đúng thời cơ, xác định chuẩn nhiệm vụ trung tâm và lãnh đạo toàn dân vùng lên giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Thắng lợi ấy cho thấy: tinh thần quật khởi của Nhân dân là nền tảng, song chính sự lãnh đạo thống nhất, kịp thời và quyết đoán mới làm cho nền tảng ấy trở thành sức mạnh bùng nổ, đưa dân tộc bước sang kỷ nguyên độc lập.

Sau khi giành được chính quyền, cách mạng Việt Nam đứng trước thử thách mới: bảo vệ thành quả non trẻ trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Đất nước phải đối mặt đồng thời với thù trong, giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ và những vấn đề bức thiết về ổn định chính trị – xã hội. Ở giai đoạn này, sự lãnh đạo của Đảng thể hiện ở khả năng lựa chọn đúng trọng tâm nhiệm vụ, xử lý đúng mối quan hệ giữa trước mắt và lâu dài, giữa bảo vệ chính quyền và chăm lo đời sống Nhân dân, đồng thời phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc giữ vững chính quyền non trẻ vì thế không chỉ là kết quả của ý chí, mà còn là kết quả của năng lực lãnh đạo, tổ chức và huy động nguồn lực xã hội.

Bước vào các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng được khẳng định ở quy mô và mức độ cao hơn. Đảng không chỉ đề ra đường lối chiến lược đúng đắn mà còn tổ chức thực hiện một cách kiên trì, sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng giai đoạn. Năng lực lãnh đạo ở đây được thể hiện trên ba phương diện gắn bó: giữ vững mục tiêu chiến lược; lựa chọn sách lược đúng; và bảo đảm tổ chức thực hiện hiệu quả. Chính sự thống nhất đó tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giúp Việt Nam vượt qua những thử thách khắc nghiệt và giành những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử to lớn.

Sau ngày đất nước thống nhất, nhiệm vụ trung tâm chuyển từ giành và giữ độc lập sang tổ chức xây dựng và phát triển. Đây là một chuyển đoạn quan trọng, thước đo vai trò lãnh đạo không còn chủ yếu nằm ở thắng lợi quân sự, mà nằm ở năng lực tổ chức phát triển kinh tế – xã hội, ổn định đời sống, củng cố quốc phòng – an ninh, tăng cường vị thế quốc gia. Giai đoạn này cũng đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo cho phù hợp với điều kiện hòa bình và phát triển.

dang-cong-san-viet-nam-trong-dong-chay-lich-su-dan-toc-bai-2-2 (2)
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, có thể khẳng định rằng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Ảnh tư liệu

Công cuộc đổi mới từ năm 1986 là một minh chứng rõ nét cho khả năng tự đổi mới, tự điều chỉnh của Đảng trong vai trò lãnh đạo. Việc dám nhìn thẳng vào thực tiễn, nhận diện đúng những hạn chế, yếu kém và kịp thời điều chỉnh đường lối, cơ chế vận hành đã tạo ra bước chuyển có ý nghĩa lịch sử. Thành tựu của đổi mới cho thấy một chân lý thực tiễn: vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là trạng thái bất biến, mà là quá trình không ngừng được bổ sung, hoàn thiện bằng bản lĩnh, trí tuệ và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển.

Nhìn sâu hơn, vai trò lãnh đạo của Đảng còn thể hiện rõ trong khả năng tổ chức và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng không chỉ là lực lượng đề ra đường lối, mà còn là trung tâm quy tụ, gắn kết các giai cấp, tầng lớp và lực lượng xã hội trong mục tiêu chung của dân tộc.

Khi các lực lượng xã hội được tập hợp trong một mục tiêu thống nhất, khi lợi ích của quốc gia - dân tộc được đặt làm điểm quy chiếu, sức mạnh tổng hợp được nhân lên và trở thành động lực để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.

(Còn nữa)

Nguyễn Giang