Kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới

ASEAN+3 sẽ định hình lại kinh tế thế giới?

Cẩm Anh 04/02/2026 04:08

Bản đồ kinh tế toàn cầu đã được vẽ lại. Theo đó, ASEAN+3 đang là thị trường quan trọng nhất của thế giới.

Ảnh màn hình 2026-02-03 lúc 18.22.15
ASEAN có gần 700 triệu người tiêu dùng và tầng lớp trung lưu đang phát triển nhanh chóng. ẢNH: EPA

Các mức thuế do Mỹ áp đặt từ năm ngoái đã khôi phục một câu chuyện quen thuộc, các nền kinh tế châu Á phụ thuộc vào xuất khẩu sẽ đối mặt với mối đe doạ mang tính sống còn mỗi khi người tiêu dùng Mỹ thắt chặt chi tiêu.

Theo đó, khu vực ASEAN+3, gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), về bản chất vẫn chỉ là “công xưởng” phục vụ tiêu dùng của phương Tây, dễ tổn thương trước bất kỳ cú sốc nhu cầu nào từ các nền kinh tế phát triển.

Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi theo những cách mà các phân tích truyền thống chậm nhận ra. ASEAN+3 không chỉ còn là công xưởng của thế giới, mà đã trở thành thị trường lớn nhất toàn cầu.

Đến năm 2022, ASEAN+3 chiếm 28% tổng nhu cầu toàn cầu, vượt Mỹ với mức 26%. Con số này được tính dựa trên phân tích giá trị gia tăng – phương pháp theo dõi điểm đến tiêu dùng cuối cùng của hàng hoá, thay vì chỉ dựa vào các dòng chảy qua biên giới.

Đây không phải là một hiện tượng thống kê ngẫu nhiên, mà phản ánh sự tái sắp xếp căn bản về nơi mà sản lượng toàn cầu cuối cùng được hấp thụ.

Hai thập kỷ trước, gần 1/3 lượng xuất khẩu của ASEAN+3 phục vụ tiêu dùng cuối cùng được bán sang Mỹ. Đến năm 2022, tỷ trọng này giảm xuống còn 20%, trong khi nhu cầu nội vùng tăng lên gần 30%.

Theo ông Dong He, Chuyên gia kinh tế trưởng tại Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3, ngày càng rõ ràng rằng châu Á đang sản xuất cho chính mình, trong đó Trung Quốc nằm ở trung tâm của sự chuyển đổi này. Các số liệu thương mại truyền thống thường che khuất vai trò của Trung Quốc với tư cách là một thị trường tiêu dùng, bởi phần lớn hàng hoá người dân Trung Quốc mua được lắp ráp trong nước từ linh kiện nhập khẩu.

Điều này cho thấy Trung Quốc là điểm đến lớn của nhu cầu cuối cùng, chứ không chỉ là trạm trung chuyển hàng hoá đi nơi khác.

Quy mô tiêu dùng của Trung Quốc là động lực then chốt. Chẳng hạn như ngành ô tô, Trung Quốc hiện là thị trường ô tô lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/3 doanh số toàn cầu, nhiều hơn cả Mỹ và Liên minh châu Âu cộng lại.

Quốc gia này cũng dẫn đầu thế giới về việc áp dụng xe điện, từ đó định hình lại chuỗi cung ứng ô tô, từ pin đến bán dẫn. Hay với điện thoại thông minh, Trung Quốc chiếm hơn 1/5 số người dùng toàn cầu, gấp khoảng 4 lần tỷ trọng của Mỹ.

Chuyên gia này nhận định: "Những ví dụ này cho thấy vì sao các chuỗi cung ứng trong khu vực đã tái định hướng. Trên nhiều nhóm sản phẩm, vai trò của Trung Quốc với tư cách là thị trường cuối cùng không còn là thứ yếu, mà mang tính trung tâm, qua đó tác động trực tiếp đến các quyết định sản xuất trên toàn khu vực".

Ngành hàng điện và điện tử hiện chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu của Malaysia. Ảnh: Shutterstock
Khu vực ASEAN+3, gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và khu vực ASEAN đang trở thành "lực hút" mới toàn cầu

Khoảng 20 năm trước, Nhật Bản là trụ cột của các mạng lưới cung ứng châu Á. Ngày nay, Trung Quốc đã đảm nhận vai trò này, không chỉ như một trung tâm sản xuất, mà còn là nguồn cầu cuối cùng kéo các chuỗi cung ứng trong khu vực xoay quanh mình.

Khi một nhà sản xuất chip Hàn Quốc hay một nhà cung cấp linh kiện Nhật Bản quyết định đặt cơ sở sản xuất ở đâu, họ ngày càng cân nhắc sự gần gũi với người tiêu dùng Trung Quốc, chứ không chỉ với các nhà máy tại Trung Quốc.

Hiện nay, Nhật Bản xuất khẩu linh kiện ô tô sang Trung Quốc nhiều gấp hơn 4 lần so với tổng lượng xuất sang Mỹ và EU. Gần một nửa lượng xuất khẩu trung gian ngành điện tử của ASEAN+3 hiện chảy vào Trung Quốc. Những hàng hoá này được nhập dưới dạng linh kiện, nhưng người mua cuối cùng thường là các hộ gia đình Trung Quốc.

Ông He cho biết: "Điều quan trọng là đây không phải là câu chuyện về sự phụ thuộc một chiều vào Trung Quốc. Mối quan hệ này mang tính tương hỗ và củng cố lẫn nhau".

Nhật Bản và Hàn Quốc cung cấp các đầu vào công nghệ cao như chip, màn hình, linh kiện chính xác và thiết bị vốn. Trong khi đó, ASEAN đảm nhiệm các khâu sản xuất trung gian và lắp ráp. Trung Quốc đóng góp quy mô thị trường, năng lực sản xuất ngày càng tinh vi, và hiện nay là nguồn cầu cuối cùng rất lớn.

Kết quả là một hệ thống sản xuất và nhu cầu trong khu vực, nơi mỗi mắt xích đều làm mạnh thêm các mắt xích còn lại. Các nền kinh tế ASEAN+3 khác cũng đã trở thành nguồn cầu cuối cùng lớn nhất cho xuất khẩu của Trung Quốc, một dạng phụ thuộc lẫn nhau, khác hẳn với các cấu trúc trước đây khi nhu cầu chủ yếu chảy ra các thị trường phương Tây.

Bản thân khu vực ASEAN, với gần 700 triệu người tiêu dùng và tầng lớp trung lưu đang mở rộng nhanh chóng, cũng đang nổi lên như một thị trường lớn theo đúng nghĩa.

Khu vực này hiện là điểm đến quan trọng của hàng hoá từ Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời là nguồn cầu cuối cùng lớn thứ hai cho xuất khẩu của Trung Quốc, chỉ sau Mỹ. ASEAN cũng là một trong những nền tảng nhu cầu tăng trưởng nhanh nhất của kinh tế toàn cầu.

Ông Allen Ng, chuyên gia kinh tế cao cấp chỉ ra, sự dịch chuyển mang tính cấu trúc này kéo theo những hệ quả rõ ràng về cách các cú sốc kinh tế lan truyền. "Phân tích kịch bản của chúng tôi cho thấy, một cú giảm trong nhu cầu nội địa của Trung Quốc hiện nay tác động đến phần còn lại của ASEAN+3 mạnh gấp 5 lần so với hai thập kỷ trước", ông Allen Ng nhận định.

Ngược lại, mức độ nhạy cảm với các cú sốc nhu cầu từ Mỹ đã giảm tương đối ở hầu hết các nền kinh tế trong khu vực. Chu kỳ kinh doanh của các nước trong khu vực ngày càng đồng bộ với nhau hơn là với phần còn lại của thế giới.

Ông Allen Ng cho rằng, điều này không có nghĩa là khu vực miễn nhiễm với chính sách thương mại của Mỹ. Leo thang thuế quan vẫn gây ra những chi phí thực sự, và các yếu tố toàn cầu vẫn rất quan trọng. Tuy nhiên, điều đó cho thấy một mức độ chống chịu mà cách nhìn “công xưởng của phương Tây” không thể lý giải được.

Nền tảng nhu cầu của khu vực hiện nay gắn chặt hơn với nội vùng và ít phụ thuộc vào các thị trường bên ngoài khu vực hơn bất kỳ thời điểm nào trong hai thập kỷ qua.

Với các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp, những hàm ý là rất lớn. Các chiến lược dựa trên giả định phục vụ nhu cầu phương Tây cần được cập nhật. Quyết định về chuỗi cung ứng phải tính đến lực hút của tiêu dùng châu Á.

Và khi đánh giá mức độ dễ tổn thương của khu vực trước các căng thẳng thương mại, cần nhận ra rằng ASEAN+3 đã xây dựng được một thứ mà trước đây chưa từng có: một hệ thống nhu cầu bám rễ trong khu vực, kết hợp quy mô thị trường vượt trội của Trung Quốc, sự đa dạng và năng động của ASEAN, cùng trình độ công nghệ cao của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Cẩm Anh