Chính sách - Quy hoạch

Chính sách - Quy hoạch

Quản lý đất đai trong kỷ nguyên số

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ 19/02/2026 07:13

Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tạo lập động lực phát triển mới cho nền kinh tế quốc gia, trong đó chuyển đổi số cùng khoa học công nghệ giữ vai trò then chốt.

Đối với quản lý đất đai, thay đổi thể hiện ở quá trình thay thế phương thức lưu trữ thủ công bằng hệ thống dữ liệu số đồng bộ, cho phép giám sát quyền sử dụng đất, giá trị đất đai, dòng giao dịch theo thời gian thực, hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng định lượng.

img_7008.jpeg
Việc số hóa, liên thông dữ liệu cho phép theo dõi biến động trên quy mô hàng chục triệu thửa đất, hàng triệu giao dịch mỗi năm. Ảnh: LV

Bước ngoặt lớn trong phân bổ nguồn lực

Giai đoạn 2026-2030 được xác định là chặng đường triển khai sâu rộng các khuôn khổ pháp lý hình thành từ Luật Đất đai 2024 trong điều kiện nguồn lực đất đai đã được khai thác ở mức rất cao. Tổng diện tích đất tự nhiên cả nước đạt 33.133.831 ha, trong đó diện tích đã đưa vào sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp đạt 31.961.350 ha, tương đương 96,46%, phản ánh dư địa mở rộng theo chiều rộng gần như không còn. Diện tích đất chưa sử dụng chỉ còn 1.172.481 ha, chiếm 3,54%, chủ yếu tập trung tại khu vực đồi núi với 857.292 ha, cho thấy định hướng quản lý trong giai đoạn tới buộc phải chuyển mạnh sang nâng cao hiệu quả, giá trị gia tăng trên mỗi đơn vị diện tích.

Nhóm đất nông nghiệp tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn với 27.976.827 ha, tương đương 84,44% tổng diện tích tự nhiên. Trong cấu trúc nội tại, đất lâm nghiệp đạt 15.465.524 ha, chiếm 46,68%, phản ánh vai trò của tài nguyên rừng trong an ninh sinh thái quốc gia. Đất sản xuất nông nghiệp đạt 11.649.036 ha, chiếm 35,16%, trong đó đất trồng lúa còn 3.919.512 ha, tương đương 11,83%. So sánh giai đoạn 2020-2024 cho thấy diện tích đất lúa giảm 39,75 nghìn ha, trong khi đất rừng phòng hộ tăng 70,92 nghìn ha và đất rừng đặc dụng tăng 44,18 nghìn ha, thể hiện xu hướng điều chỉnh ưu tiên từ mục tiêu sản lượng sang mục tiêu bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, đặc biệt tại các lưu vực nhạy cảm và vùng ven biển.

Đất phi nông nghiệp đạt 3.984.523 ha, chiếm 12,03% tổng diện tích tự nhiên, với xu hướng gia tăng rõ rệt trong giai đoạn 2020-2024 khi tăng thêm 116,25 nghìn ha. Đất ở đô thị đạt 212,69 nghìn ha, chiếm 0,64%, tăng 22,4 nghìn ha so với năm 2020, phản ánh tốc độ đô thị hóa cao tiếp tục tạo áp lực lớn lên quản lý quỹ đất. Đất khu công nghiệp đạt 106,66 nghìn ha, tăng 15,95 nghìn ha, cho thấy yêu cầu tái cấu trúc mô hình sử dụng đất công nghiệp theo hướng tiết kiệm, tập trung, gắn với công nghệ cao trở thành vấn đề cấp thiết trong bối cảnh chi phí đất đầu vào tăng mạnh.

Cơ chế giá đất thị trường được vận hành đầy đủ từ 01/01/2026 tạo ra bước ngoặt lớn trong phân bổ nguồn lực. Kết quả thí điểm tại Hưng Yên với mức điều chỉnh giá đất tại một số khu vực tăng 8-10 lần so với bảng giá cũ cho thấy độ trễ tích tụ dài giữa giá hành chính và giá giao dịch. Khi giá đất tiệm cận thị trường, nghĩa vụ tài chính đất đai của khu vực doanh nghiệp và hộ gia đình gia tăng, qua đó nâng cao nguồn thu ngân sách địa phương. Với tổng diện tích đất ở cả nước đạt 770.270 ha, chỉ cần chênh lệch giá tính thu tăng thêm 1 triệu đồng trên mỗi mét vuông tại các đô thị lớn đã tạo ra giá trị ngân sách bổ sung rất lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu kiểm soát tác động tới khả năng tiếp cận nhà ở của nhóm thu nhập trung bình và thấp.

Chuyển đổi số đóng vai trò then chốt

Tư duy phòng chống lãng phí được cụ thể hóa qua các đợt rà soát dự án chậm tiến độ trong giai đoạn 2026-2030. Năm 2023, riêng các tổ chức kinh tế trong nước còn 22.205 ha đất đã được giao hoặc cho thuê nhưng chưa đưa vào sử dụng, chiếm 0,70% quỹ đất của nhóm đối tượng này. Các tổ chức sự nghiệp công lập còn 83.724 ha chưa sử dụng, phản ánh dư địa lớn cho tái phân bổ. Khi Nghị quyết 74-NQ/TW coi lãng phí nguy hại ngang tham nhũng, áp lực thu hồi các diện tích đất kém hiệu quả sẽ gia tăng, tạo nguồn lực cho các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng giao thông với 770.000 ha đất hiện hữu, hạ tầng năng lượng với 202.260 ha, cùng không gian phát triển năng lượng tái tạo và khu công nghiệp sinh thái.

Chiến lược chuyển đổi số trong quản lý đất đai hướng tới hoàn thành hệ thống thông tin đất đai quốc gia trước năm 2030 đóng vai trò then chốt. Hiện nay, diện tích đất do hộ gia đình cá nhân quản lý đạt 15.739.894 ha, chiếm 47,50% tổng diện tích tự nhiên, trong khi diện tích do các tổ chức trong nước quản lý đạt 10.637.760 ha. Việc số hóa, liên thông dữ liệu địa chính với dân cư, thuế, công chứng, ngân hàng cho phép theo dõi biến động trên quy mô hàng chục triệu thửa đất, hàng triệu giao dịch mỗi năm, tạo nền tảng cho quản trị minh bạch, điều tiết thị trường bằng công cụ kinh tế thay cho can thiệp hành chính.

Trong bối cảnh quỹ đất chưa sử dụng chỉ còn 3,54%, định hướng 2026-2030 khẳng định chuyển dịch chiến lược từ mở rộng sang tối ưu hóa, từ phân phối sang điều tiết, từ quản lý thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu và kỷ cương tài chính, phù hợp yêu cầu phát triển xanh và số của nền kinh tế quốc gia.

(*) Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường

PGS.TS. Nguyễn Đình Thọ