Đầu tư

Đầu tư

Chuyển hóa vốn thành tăng trưởng thực

Lê Mỹ 03/03/2026 02:11

Đầu tư công nhiều khả năng sẽ được đặt ở vị trí trụ cột quan trọng nhất cho tăng trưởng 2 con số trong năm 2026 trong bối cảnh xuất khẩu thận trọng, tiêu dùng có thể chưa hoàn toàn tăng tốc mạnh.

dau-tu-cong.jpg
Đầu tư công được xem là đòn bẩy nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright cho biết trong bối cảnh như vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, hệ số ICOR và tính hiệu quả của các dự án khu vực công cần phải được cải thiện, xa hơn là định hình, đóng góp cho mô hình tăng trưởng phải dựa vào cải thiện và nâng cao năng suất cạnh tranh.

“Chìa khóa” đưa ICOR về mức thấp

Trước hết, cần khẳng định rằng ICOR cao hiện nay phản ánh những ràng buộc mang tính cấu trúc của mô hình tăng trưởng Việt Nam những thập niên qua. Với mức ICOR giai đoạn 2022 – 2025 khoảng 5,8, để đạt tăng trưởng GDP thực 10%, nền kinh tế Việt Nam buộc phải duy trì tỷ lệ đầu tư xã hội trên 47% GDP. Đây là mức cao gần như chưa từng có tiền lệ và tiềm ẩn rủi ro lớn về lạm phát, nợ công và ổn định vĩ mô.

Điều này cho thấy tăng trưởng cao trong điều kiện ICOR cao thực chất là tăng trưởng dựa vào bơm vốn, chứ không phải dựa vào năng suất và hiệu quả. Vì vậy, nếu hỏi “chìa khóa” nằm ở đâu thì câu trả lời dứt khoát là không nằm ở việc huy động thêm vốn mà là ở việc kéo ICOR xuống.

“Nếu ICOR được cải thiện về khoảng 4,9, thì với tỷ lệ đầu tư xã hội quanh 40% GDP, mục tiêu tăng trưởng 10% trở nên khả thi hơn nhiều. Thậm chí, nếu ICOR giảm về khoảng 4, nền kinh tế có thể đạt tăng trưởng 10% ngay cả khi tỷ lệ đầu tư chỉ quanh 33% GDP, tức là tăng trưởng dựa trên hiệu quả và năng suất, chứ không phải mở rộng đầu tư theo chiều rộng”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận định.

Vậy câu hỏi là làm thế nào để kéo ICOR xuống? Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, “chìa khóa” nằm ở ba điểm:

Thứ nhất, Chính phủ phải nâng cao chất lượng lựa chọn dự án đầu tư công. Phân tích ICOR theo khu vực cho thấy ICOR của khu vực Nhà nước cao và biến động mạnh hơn đáng kể so với khu vực tư nhân và FDI trong suốt giai đoạn 2011 – 2025. Điều này cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống như lựa chọn dự án dàn trải, ưu tiên giải ngân hơn là hiệu quả kinh tế, và năng lực chuẩn bị dự án không theo kịp quy mô vốn. Nếu đầu tư công không giúp cải thiện chi phí kinh doanh hoặc nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế thì việc ICOR cao là hệ quả tất yếu.

Thứ hai, định vị lại vai trò của đầu tư công trong mô hình tăng trưởng mới. Đầu tư công không nên tiếp tục được xem là động cơ thay thế cho khu vực tư nhân mà phải trở thành đòn bẩy nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế.

Kinh nghiệm so sánh quốc tế cho thấy các nền kinh tế Đông Á trong giai đoạn tăng trưởng thần kỳ của họ đều duy trì ICOR quanh mức 3 nhờ dựa vào kỷ luật thị trường, áp lực cạnh tranh và năng suất. Điều này có nghĩa là đầu tư công chỉ phát huy tác dụng khi kéo được khu vực tư nhân và FDI cùng tham gia vào chứ không phải tư duy thay thế.

Thứ ba, về dài hạn, đó là phải cải thiện thực chất thể chế kinh tế và trách nhiệm giải trình. Hiện nay, dường như thành công của đầu tư công vẫn chủ yếu được đo bằng tiến độ và tỷ lệ giải ngân, trong khi hiệu quả kinh tế của dự án và tác động đến năng suất của nền kinh tế sau đầu tư hầu như chưa được đo lường, đánh giá, tổng kết.

Điểm nghẽn cần tháo gỡ

Trong bức tranh nguồn vốn năm 2026, bao gồm đầu tư công, đầu tư tư nhân, tín dụng, thị trường vốn..., nhìn một cách tổng quan, nếu phải chỉ ra một điểm nghẽn duy nhất và một lợi thế có tính “đòn bẩy” lớn nhất cho tăng trưởng của Việt Nam, thì câu trả lời nằm ở hiệu quả hấp thụ và phân bổ vốn.

Cụ thể, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn khẳng định điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam chính là khả năng chuyển hóa vốn thành tăng trưởng thực và năng suất. Việt Nam không thiếu vốn danh nghĩa, bởi tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao, trên 145% GDP; đầu tư xã hội trên 33% GDP; đầu tư công chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư xã hội. Tuy nhiên, hệ số ICOR của Việt Nam khá cao, nhất là so với các nước công nghiệp hóa thành công, cho thấy để tạo ra một đơn vị tăng trưởng, nền kinh tế phải bỏ ra lượng vốn lớn hơn nhiều.

Do đó, nút thắt lớn nhất nằm ở chỗ dòng tiền có đi đúng chỗ và tạo ra bao nhiêu năng suất. Năm 2026 và cho cả giai đoạn 2026 – 2030, nếu chúng ta không cải thiện được chất lượng dự án đầu tư, ràng buộc ngân sách cứng, và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của khu vực tư nhân, thì ngay cả khi huy động được nhiều nguồn lực hơn, đạt được tăng trưởng cao nhưng khó tránh khỏi rủi ro lạm phát, gánh nặng nợ và mất cân đối vĩ mô cả bên trong và bên ngoài.

Ngược lại, lợi thế có tính đòn bẩy lớn nhất của Việt Nam trong năm 2026 chính là dư địa cải thiện hiệu quả và năng suất, đặc biệt thông qua các cải cách thể chế sâu rộng, tái cấu trúc cách thức phân bổ vốn. Như tính toán của TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho thấy, nếu ICOR được kéo từ mức 5,8 hiện nay về 5, thì tăng trưởng GDP có thể cao hơn 1,5 – 2 điểm phần trăm mà không phải huy động vốn vượt quá khả năng chịu tải của nền kinh tế. Thậm chí, nếu cải thiện được hệ số ICOR về 4, chúng ta vẫn có thể đạt được tăng trưởng hai con số với quy mô vốn đầu tư xã hội như hiện nay. Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, đây chính là đòn bẩy vô hình nhưng rất ý nghĩa.

“Trong năm 2026, bài toán nguồn vốn của Việt Nam không phải là thiếu nguồn lực mà là thiếu hiệu quả và kỷ luật phân bổ nguồn lực. Nếu điểm nghẽn này được tháo gỡ, tôi tin rằng cái giá của tăng trưởng cao sẽ ít tốn kém hơn”, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh.

Lê Mỹ