Phân tích - Bình luận
Giải bài toán chế biến sâu đất hiếm
Bài toán đất hiếm của Việt Nam không đơn giản “có mỏ là giàu”, mà là tập hợp một chuỗi chiến lược gồm 4 lớp vấn đề lớn: tài nguyên, công nghệ, môi trường và địa chính trị.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, xác định đất hiếm là tài nguyên chiến lược quốc gia. Điều này tạo hành lang pháp lý minh bạch, giúp quản lý và khai thác tài nguyên này một cách bền vững. Theo đó, nhiều nghị định và thông tư hướng dẫn cũng đã được ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý, kiểm soát và xử lý các hoạt động khai thác trái phép tài nguyên.
Những rào cản lớn
Theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ (USGS), trữ lượng tiềm năng đất hiếm chưa khái thác tại Việt Nam khoảng 3,5 triệu tấn, xếp thứ 6 toàn cầu.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang giảm phụ thuộc vào Trung Quốc - quốc gia hiện chi phối phần lớn hoạt động khai thác và tinh luyện đất hiếm, vị thế đất hiếm của Việt Nam trở nên đặc biệt quan trọng. Trong khi đó, các dự án khai thác đất hiếm ở Việt Nam cho thấy bài toán không còn nằm ở trữ lượng, mà ở tư duy công nghệ và cơ chế đầu tư.
Tại Hội nghị chuyên ngành vào cuối năm ngoái, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho rằng, phải mạnh dạn đề xuất đề tài gắn với chế biến sâu khoáng sản, nhất là đất hiếm - nền tảng của nam châm vĩnh cửu, pin mặt trời và thiết bị bay không người lái.
Trên thực tế, ngành khoáng sản Việt Nam đang đối mặt với một số thách thức lớn cần sớm được hóa giải.
Thứ nhất, ngành khoáng sản nói chung và đất hiếm nói riêng cơ bản chưa thoát khỏi vòng tròn luẩn quẩn “xuất thô - nhập tinh”. Ví dụ, dự án đất hiếm Lai Châu phải nhập nguyên phụ liệu từ Nga, Australia phục vụ chế biến sâu, sau đó xuất khẩu sang Mỹ.
Thứ hai, từ thực tế bán quặng thô đã phơi bày lổ hổng cố hữu: Chuỗi cung ứng trong lĩnh vực này gần như bằng không. Đất hiếm là tập hợp 15 nguyên tố hóa học, đòi hỏi nhiều phân nhánh công nghiệp như luyện kim, tinh chế oxyde… cùng phát triển để tạo ra sản phẩm cuối cùng có thể ứng dụng sản xuất vật liệu bán dẫn.
Thứ ba, sẽ là rủi ro lớn nếu đặt mục tiêu khai thác sản lượng vượt quá năng lực quản lý chất thải độc hại. Theo Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050, dự kiến đến năm 2030, Việt Nam sẽ khai thác khoảng 2 triệu tấn quặng đất hiếm nguyên khai/năm.

Kinh nghiệm từ các nước
Theo TS Richard Ramsawak, Đại học RMIT Việt Nam, đất hiếm hiện là đầu vào không thể thiếu của quá trình chuyển đổi toàn cầu sang sản xuất công nghệ cao và giảm phát thải carbon, từ động cơ xe điện, tuabin gió cho tới các thiết bị điện tử và công nghệ quốc phòng.
Vấn đề của Việt Nam không còn nằm ở quy mô trữ lượng đất hiếm, mà ở cách quản lý và chế biến sâu để tránh lặp lại mô hình xuất khẩu thô. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, giá trị lớn nhất không nằm ở khai thác, mà ở công nghệ tinh luyện và khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất công nghệ cao.
Trường hợp của Trung Quốc là minh chứng rõ ràng. Nước này đầu tư sớm vào công nghệ tách chiết, luyện kim và sản xuất nam châm vĩnh cửu - đầu vào quan trọng của xe điện và năng lượng tái tạo. Nhờ kiểm soát toàn bộ chuỗi giá trị, Trung Quốc tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, đồng thời sử dụng công cụ pháp lý để kiểm soát xuất khẩu. Tuy nhiên, phát triển nóng từng gây hệ lụy môi trường đáng kể ở quốc gia này.
Australia theo đuổi tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt và hợp tác quốc tế nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Ngược lại, kinh nghiệm tại Malaysia cho thấy nếu thiếu minh bạch và đồng thuận xã hội, các dự án tinh luyện dễ vấp phản ứng mạnh.
Trong khi đó, kinh nghiệm tại Malaysia cho thấy yếu tố xã hội có thể trở thành biến số quyết định. Những tranh cãi kéo dài quanh lo ngại phóng xạ từ hoạt động tinh luyện đã tạo áp lực chính trị đáng kể. Điều đó nhấn mạnh yêu cầu minh bạch thông tin môi trường và tham vấn cộng đồng ngay từ đầu.
Với Việt Nam, hướng đi phù hợp là phát triển chế biến sâu đi kèm ràng buộc chuyển giao công nghệ, tích hợp đất hiếm vào chiến lược xe điện và năng lượng tái tạo. Chỉ với tầm nhìn dài hạn, tài nguyên này mới trở thành nền tảng nâng cấp công nghiệp.
TS Khương Quang Đồng, Chuyên gia năng lượng, hiến kế: “Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng “át chủ bài” đất hiếm để trao đổi, tìm kiếm sớm cơ hội gia nhập chuỗi cung ứng vật liệu chiến lược với các đối tác lớn. Muốn thu hẹp xuất siêu, chúng ta có thể đẩy mạnh hợp tác khai thác đất hiếm với Mỹ, nhập máy móc từ đó,…”.n