24h
Giá xăng tăng sốc: Giảm thuế đến đâu là đủ?
Giá xăng dầu tăng mạnh đang gây sức ép lớn lên chi phí sản xuất và đời sống dân sinh. Giảm thuế là giải pháp cấp bách, nhưng dư địa chính sách có thể kéo dài đến đâu vẫn là câu hỏi lớn.
Giá xăng dầu trong nước đang tăng mạnh theo đà leo thang của thị trường thế giới, nhanh chóng đẩy chi phí vận tải, sản xuất và tiêu dùng lên cao. Kỳ điều hành ngày 19/3 vừa qua ghi nhận mức tăng từ hơn 3.500 đồng đến gần 9.000 đồng mỗi lít, tùy mặt hàng. Xăng RON 95 vượt mốc 31.000 đồng/lít, trong khi dầu diesel và dầu hỏa còn tăng mạnh hơn.
Dù đã sử dụng Quỹ bình ổn, giá vẫn không tránh khỏi xu hướng leo thang.

Sức ép từ giá nhiên liệu không dừng ở thị trường năng lượng. Bộ Xây dựng đã yêu cầu các địa phương và đơn vị chuyên ngành theo dõi sát tác động của giá xăng dầu đến giá cước vận tải, nhất là vận chuyển hành khách và hàng hóa thiết yếu. Ở chiều khác, nhiều hệ thống bán lẻ cũng cho biết đang chịu áp lực tăng giá đầu vào từ nhà cung cấp do chi phí logistics, nguyên liệu và bao bì leo thang.
Khi giá nhiên liệu tăng, áp lực sẽ lan thẳng vào vận tải, sản xuất, bán lẻ và cuối cùng phản ánh vào giá hàng hóa tiêu dùng. Nếu kéo dài, tác động này sẽ tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá chung và mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Trong bối cảnh đó, Quỹ bình ổn giá xăng dầu đang bộc lộ giới hạn. Theo Bộ Công thương, quỹ hiện chỉ còn dư hơn 2.600 tỉ đồng, đủ cho vài ngày với mức chi hiện nay. Điều đó cho thấy công cụ này chỉ có thể giúp giảm sốc trong ngắn hạn, chứ không thể gánh áp lực nếu giá thế giới tiếp tục neo cao và biến động liên tục.
Chính vì vậy, giảm thuế đang được đặt ra như một giải pháp trực tiếp hơn. Trong cơ cấu giá xăng dầu, các sắc thuế như thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng hay thuế tiêu thụ đặc biệt chiếm tỷ trọng đáng kể. Điều chỉnh các sắc thuế này có thể tác động ngay đến giá bán lẻ, qua đó góp phần giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp và người dân.
Như vậy, vấn đề không chỉ nằm ở việc có giảm thuế hay không, mà còn ở cách thiết kế cơ chế thuế. Nếu cơ chế hiện tại vẫn khiến giá trong nước phản ứng mạnh hơn với biến động thế giới, thì việc dùng Quỹ bình ổn hay cắt giảm thuế ngắn hạn cũng khó tạo ra hiệu quả bền vững.
Về dài hạn, bài toán không dừng ở thuế. Chỉ thị 09 của Thủ tướng cũng đã đặt ra hướng đi căn cơ hơn: đẩy nhanh sử dụng xăng sinh học E10, thúc đẩy chuyển đổi sang giao thông điện, phát triển hạ tầng sạc và giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu. Đây mới là lời giải mang tính cấu trúc cho an ninh năng lượng và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, khi áp lực giá đã lan rộng sang vận tải, bán lẻ và tiêu dùng, giảm thuế vẫn là giải pháp có tính cấp bách. Vấn đề là phải xác định rõ giới hạn của chính sách, để việc hạ nhiệt trước mắt không làm cạn đi dư địa điều hành về sau. Bởi nếu không tính toán đủ kỹ, giải pháp hỗ trợ hôm nay rất có thể sẽ trở thành sức ép mới cho ngày mai.
Trao đổi với báo chí, TS Nguyễn Quốc Việt (Đại học Kinh tế Quốc dân) nhấn mạnh, ngoài Quỹ bình ổn và các biện pháp bảo đảm nguồn cung, các công cụ thuế, phí cần được sử dụng sớm vì đây sẽ là bước đệm dài hơn cho thị trường. Theo ông, “Quỹ bình ổn giá xăng dầu chủ yếu nhằm giảm bớt các cú sốc giá trong ngắn hạn, hạn chế tác động mạnh của việc giá xăng dầu “leo thang”. Nay giá thế giới “leo thang” và biến động liên tục, thì các công cụ thuế như thuế bảo vệ môi trường, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt... cần được xem xét điều chỉnh giảm sớm”.
Nhưng nếu giảm thuế, câu hỏi tiếp theo lập tức được đặt ra là: giảm đến đâu là đủ?
Theo PGS TS Phạm Thế Anh - Trưởng khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng xăng dầu là đầu vào của gần như mọi hoạt động sản xuất và lưu thông. Khi giá nhiên liệu tăng, chi phí vận chuyển, nguyên liệu đầu vào và giá thành sản phẩm đều bị đẩy lên, cuối cùng phản ánh vào giá hàng hóa tiêu dùng. Ông dẫn kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu giá xăng dầu tăng 10 - 20% thì nền kinh tế còn có thể thích ứng; tăng 30 - 50% sẽ bắt đầu ảnh hưởng tới đầu tư và tiêu dùng; còn nếu tăng 50 - 100% thì nguy cơ suy thoái là rõ ràng, nhất là với những nền kinh tế có sức chống chịu yếu.
Trong khi đó, giá xăng dầu trong nước sau gần 3 tuần đã tăng khoảng 40 - 80%; nếu cộng cả phần chi từ Quỹ bình ổn thì mức tăng tương ứng vào khoảng 70 - 100% tùy loại. Từ thực tế này, PGS TS Phạm Thế Anh cho rằng cần nhanh chóng xem xét lại cách đánh thuế đối với xăng dầu. Theo ông, thuế nhập khẩu đã được điều chỉnh về 0% đến hết ngày 30/4, nhưng nên bỏ vĩnh viễn thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng dầu mới là hợp lý.
Quan trọng hơn, ông chỉ ra một bất cập lớn: nhiều loại thuế hiện nay được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán. Khi giá thế giới tăng, số thuế tuyệt đối mà người dân và doanh nghiệp phải nộp cũng tăng theo, vô hình trung làm mức tăng giá bị khuếch đại. Nói cách khác, người tiêu dùng không chỉ chịu chi phí nhiên liệu tăng, mà còn phải gánh thêm phần thuế cao hơn do chính cơ chế tính thuế hiện hành.