Nghiên cứu - Trao đổi
Cần “bộ công cụ” điều hành đồng bộ cho bài toán xăng dầu
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động khó lường, yêu cầu đặt ra không chỉ là phản ứng nhanh, mà còn phải có “bộ công cụ” đủ linh hoạt để ổn định thị trường xăng dầu.
Một trong những quyết sách đáng chú ý gần đây là việc điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu. Ngay từ đầu tháng 3, Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, đề xuất giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) nhằm hạ chi phí đầu vào và mở rộng nguồn cung. Trên cơ sở đó, ngày 9/3, Chính phủ quyết định đưa thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất về mức 0%, áp dụng đến hết ngày 30/4/2026.

Động thái này được đánh giá là kịp thời, tạo hiệu ứng “giải áp” trực tiếp cho thị trường. Việc giảm thuế không chỉ giúp hạ giá vốn nhập khẩu mà còn mở rộng không gian lựa chọn nguồn hàng cho doanh nghiệp đầu mối, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu còn nhiều gián đoạn. Theo Bộ Tài chính, mục tiêu không chỉ là giảm giá trước mắt mà còn hướng tới bảo đảm an ninh năng lượng, cân đối cung – cầu và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Đáng chú ý, công cụ thuế cũng đang góp phần “chia lửa” với Quỹ Bình ổn giá xăng dầu vốn ngày càng thu hẹp dư địa. Thay vì chỉ can thiệp vào giá bán lẻ, chính sách lần này tác động trực tiếp vào chi phí đầu vào, qua đó tạo dư địa điều hành linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia nhấn mạnh, giảm thuế chỉ là một trong nhiều giải pháp cần thiết, không phải “đũa thần” có thể xử lý mọi biến động của thị trường.
Theo Chuyên gia kinh tế PGS, TS Ngô Trí Long, việc đưa thuế MFN về 0% trong giai đoạn từ 9/3 đến hết tháng 4/2026 là một quyết định tài khóa “đúng thời điểm, rõ thông điệp và có tác dụng tức thời trong việc hạ chi phí nhập khẩu biên”. Quan trọng hơn, chính sách này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong tìm kiếm nguồn cung, không bị phụ thuộc quá nhiều vào các thị trường có ưu đãi thuế từ các FTA.
Dẫn số liệu từ cơ quan quản lý, ông Long cho biết, Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% nhu cầu xăng dầu, trong khi hai nhà máy lọc hóa dầu trong nước mới đáp ứng khoảng 70%. “Điều đó cho thấy việc mở rộng dư địa nhập khẩu là rất cần thiết trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu tiềm ẩn rủi ro”, ông Long chia sẻ.
Dù vậy, vị chuyên gia cũng lưu ý, để thị trường vận hành ổn định và bền vững, không thể chỉ dựa vào giảm thuế, mà cần một gói công cụ đồng bộ”.
Cụ thể, theo ông, trước hết cần tiếp tục sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu đúng vai trò như một công cụ làm “mềm” các cú sốc ngắn hạn, tránh gây biến động mạnh tới thị trường. Cùng với đó, phải củng cố nguồn cung thực chất thông qua tăng cường dự trữ và bảo đảm nguồn cung thực chất, bởi ổn định giá mà thiếu hàng thì thị trường vẫn bất ổn.
Một yếu tố quan trọng khác là minh bạch cấu thành giá để doanh nghiệp và người dân hiểu rõ phần nào do giá thế giới, phần nào do thuế, chi phí kinh doanh, premium, tỷ giá và các yếu tố kỹ thuật khác. Khi cấu thành giá minh bạch, niềm tin thị trường sẽ tốt hơn và dư địa cho đầu cơ, găm hàng sẽ thu hẹp lại.
Ở góc độ dài hạn, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành theo hướng thị trường hơn, song song với việc nâng cao năng lực dự trữ quốc gia và giảm phụ thuộc vào các cú sốc bên ngoài.

Đồng quan điểm, PGS, TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp - Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế quốc dân nhận định, để “hạ nhiệt” áp lực giá xăng dầu, cũng như ổn định thị trường cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ chính sách thuế, điều hành quỹ bình ổn đến nâng công suất các nhà máy lọc dầu và chủ động nguồn cung. Trong đó, dự trữ xăng dầu quốc gia cần được xem là một công cụ can thiệp quan trọng trong những thời điểm thị trường biến động mạnh.
Rõ ràng, trong một thị trường ngày càng gắn chặt với biến động toàn cầu, để ổn định thị trường, hạ nhiệt giá, bài toán đặt ra là xây dựng một hệ thống chính sách đủ linh hoạt, phối hợp nhịp nhàng giữa các công cụ tài khóa, dự trữ và điều hành thị trường qua đó tạo nền tảng ổn định bền vững cho nền kinh tế.