Nghiên cứu - Trao đổi
Phát triển điện khí LNG: Vẫn còn những tồn tại cần tháo gỡ
Được xem là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng, tuy nhiên, việc phát triển điện khí sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) được cho vẫn còn đó những tồn tại về cơ chế, chính sách.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, Việt Nam dự kiến phát triển khoảng 22 - 22,5 GW điện khí LNG, chiếm khoảng 9,5 - 12,3% tổng công suất nguồn điện. Đồng thời, khoảng 13 dự án LNG với tổng công suất khoảng 22.400 MW sẽ được triển khai.

Thực tế, sau khi Luật Điện lực năm 2024 có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định 56/2025/NĐ-CP và Nghị định số 100/2025/NĐ-CP quy định chi tiết cơ chế phát triển các dự án điện lực, trong đó có nội dung về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn đối với các dự án nhiệt điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Đây được cho là bước cụ thể hóa quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điều khoản liên quan của Luật Điện lực, cho phép Chính phủ quy định cơ chế bảo đảm tiêu thụ, nguyên tắc chuyển ngang giá nhiên liệu sang giá điện và sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn theo từng thời kỳ.
Tuy nhiên, quá trình triển khai, không ít ý kiến cho rằng, cơ chế hiện hành quy định mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn ở mức 65% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án và thời gian áp dụng tối đa 10 năm kể từ khi vận hành thương mại chưa đủ để tạo nền tảng tài chính vững chắc cho các dự án có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và phụ thuộc đáng kể vào biến động giá LNG trên thị trường quốc tế...

Để giải quyết vấn đề đã nêu, tại Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 56/2025/NĐ-CP và Nghị định 100/2025/NĐ-CP, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn theo hướng không thấp hơn mức 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án nhiệt điện khí thay cho mức 65% quy định tại Nghị định 56/2025/NĐ-CP và Nghị định 100/2025/NĐ-CP. Đồng thời, thời gian áp dụng cơ chế này cũng được đề xuất kéo dài từ không quá 10 năm lên tối đa 15 năm kể từ ngày đưa dự án vào vận hành và tham gia thị trường điện.
Theo Bộ Công Thương, đề xuất này nhằm tạo lập hành lang pháp lý đủ hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần hiện thực hóa nội dung chỉ đạo tại Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó có yêu cầu rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế trong quy hoạch, cấp phép, huy động vốn… cho các dự án về năng lượng; có cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội để thu hút và triển khai các dự án năng lượng quan trọng, cấp bách quốc gia…
Nhìn nhận về các đề xuất chính sách đã nêu, TS Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, việc tăng sản lượng điện hợp đồng tối thiểu (Qc) từ 65% lên 75% và nới thời gian áp dụng từ không quá 10 năm lên 15 năm là một bước tiến đột phá so với quy định hiện hành tại Nghị định 56/2025/NĐ-CP và Nghị định 100/2025/NĐ-CP.
Tuy nhiên, theo Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, các đề xuất này “chưa đáp ứng được kiến nghị của các nhà đầu tư”, do đó khó có thể khơi thông dòng vốn vào các dự án LNG.
“Qc được đề xuất ở mức không thấp hơn mức 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án nhiệt điện khí đối với dự án đầu tư mới. Vậy mức trung bình nhiều năm đó dựa trên những dự án nào cần được Bộ Công Thương làm rõ. Ngoài ra, nhà đầu tư muốn có bảo lãnh của Chính phủ liên quan đến việc thực hiện hợp đồng, bao gồm cơ chế chuyển đổi ngoại tệ hiện vẫn chưa được tháo gỡ”, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam chia sẻ.
Đồng quan điểm, Chuyên gia năng lượng Phan Xuân Dương cũng bày tỏ, đây là chính sách vượt trội để tăng sức hấp dẫn cho dự án LNG. Tuy nhiên, cấp thẩm quyền vẫn cần bổ sung giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong thu hút đầu tư vào điện khí LNG, với việc làm rõ cơ chế phân chia rủi ro trong thực hiện dự án, cụ thể, có sự phân định trách nhiệm, nghĩa vụ một cách rõ ràng, minh bạch.
Liên quan đến vấn đề này, trước đó, một số ý kiến cũng cho hay, một trong những nguyên nhân khiến nhiều dự án LNG hiện vẫn chưa thể đưa ra quyết định đầu tư cuối cùng là vấn đề đầu ra của điện khí. Các dự án điện khí LNG hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tuy nhiên, EVN khó có thể đưa ra cam kết bao tiêu dài hạn cho toàn bộ các dự án đang được đề xuất.
Vì vậy, cần tiếp cận theo hướng mở hơn đối với thị trường tiêu thụ điện khí LNG. Theo đó, khách hàng mua điện không nhất thiết chỉ giới hạn ở EVN mà có thể mở rộng sang các khu công nghiệp hoặc các doanh nghiệp tiêu thụ điện lớn. Bởi, việc hình thành các liên kết thị trường linh hoạt như vậy sẽ giúp tạo đầu ra ổn định cho các dự án điện khí LNG, đồng thời thúc đẩy quá trình đầu tư và phát triển hạ tầng khí trong thời gian tới.