Doanh nghiệp
Doanh nghiệp gạo tìm lối ra giữa áp lực chi phí và đứt gãy vận tải
Xung đột Trung Đông làm đảo lộn logistics, xuất khẩu gạo Việt thêm áp lực, tác động kép khi giá gạo trong nước giảm khiến doanh nghiệp loay hoay giữa vòng xoáy chi phí.
Tính đến ngày 15/3, xuất khẩu gạo nước ta đạt khoảng 1,74 triệu tấn, trị giá 826,2 triệu USD, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 477,6 USD/tấn. So với cùng kỳ năm 2025, tăng 2,3% về lượng, giảm 8,7% về trị giá, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm 10,7%.

Đặc biệt, xung đột Trung Đông đang ảnh hưởng trực tiếp đến tuyến vận tải quốc tế. Hệ quả, nhiều hãng tàu phải chuyển hướng vận chuyển, khiến thời gian kéo dài thêm 7-15 ngày.
Bên cạnh đó, tình trạng thiết hụt container rỗng phục vụ đóng hàng số lượng lớn, gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu. Các hãng tàu thường xuyên điều chỉnh giá cước, thay đổi lịch trình hoặc cắt giảm một số tuyến vận chuyển đến khu vực Trung Đông, ảnh hưởng đến việc đặt tàu, container và tiến độ thực hiện một số hợp đồng xuất khẩu gạo.
Cùng với đó, trong nước, giá một số nguyên vật liệu đầu vào tăng theo, chi phí vận chuyển cũng tăng khoảng 20.000-30.000 đồng/tấn gạo.
Theo đó, nhiều doanh nghiệp cho biết, họ gặp khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng do phải điều chỉnh tiến độ giao hàng, kéo dài thời gian thanh toán hoặc phát sinh chi phí bảo quản hàng hóa. Các giao dịch mua bán với khách hàng tại khu vực Trung Đông, châu Phi, châu Á đang gặp khó khăn do giá cước vận tải biển và các chi phí liên quan tăng cao. Điều này khiến doanh nghiệp tạm hoãn một số đơn hàng, chờ phản hồi từ phía khách hàng hoặc thận trọng hơn trong việc ký kết hợp đồng mới.
Trước “thế khó” này, các doanh nghiệp ngành gạo được kêu gọi tăng cường thu mua dự trữ, đồng hành cùng nông dân và ngành theo nguyên tắc “tắc đường này sẽ đi đường khác”, tuy nhiên vẫn cần nhiều hơn những cơ chế đồng hành.
Theo ông Nguyễn Việt Anh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Lương thực Phương Đông (Orico), quy mô sản xuất toàn vùng ĐBSCL lên tới khoảng 1,5 triệu ha trong vụ đông xuân, lượng lúa hàng hóa dồn ra thị trường trong 1 - 1,5 tháng là quá sức chứa của toàn bộ hệ thống thu mua, từ thương lái đến doanh nghiệp.
Do đó, ngay cả khi huy động tối đa nguồn vốn, doanh nghiệp toàn ngành khó có thể thu mua hết lượng hàng hóa khổng lồ này.
Trong khi đó, một số nông dân có năng lực về vốn và kho chứa đã chủ động dự trữ. Lãnh đạo Orico mong muốn có một hệ thống kho chứa đủ lớn để nông dân gửi lúa vào, khi được giá sẽ bán ra. Chỉ khi bà con chủ động quyết định thời điểm bán, câu chuyện "được mùa rớt giá" sẽ không tái diễn.
Đồng quan điểm, ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cũng cho rằng, để tăng cường thu mua lúa ngoài diện tích liên kết, doanh nghiệp cần hỗ trợ mở rộng hạn mức tín dụng hoặc có chính sách lãi suất ưu đãi.

Đồng thời, ông Bình mong muốn các địa phương vùng ĐBSCL đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp để phát triển bền vững và lâu dài.
Cũng là câu chuyện đường dài, nhiều doanh nghiệp bày tỏ cần đặt thương hiệu Gạo Việt Nam vào thị trường quốc tế, bởi thực tế, phần lớn gạo Việt Nam vẫn đang xuất khẩu theo hình thức OEM - gia công, đóng gói dưới thương hiệu của nhà nhập khẩu. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp Việt gần như không kiểm soát được khâu phân phối cuối cùng.
Tổng Giám đốc Orico Nguyễn Việt Anh cho rằng, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời bài toán phân phối bán lẻ, tồn kho và hiểu biết thị trường bản địa. Để làm được cần điều chỉnh từ gốc, tức là xây dựng quy trình sản xuất riêng.
Cùng quan điểm, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng cho rằng, doanh nghiệp Việt hiện phải chấp nhận gắn thương hiệu của đối tác. Do đó, muốn nâng cao giá trị, doanh nghiệp lúa gạo Việt Nam cần từng bước xây dựng hệ thống phân phối riêng.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam đề xuất Ngân hàng Nhà nước có chính sách ưu đãi lãi suất (5 - 7%) cho doanh nghiệp có hợp đồng thu mua tạm trữ, giúp ổn định giá lúa và đưa doanh nghiệp vượt qua sức ép của thị trường ngoài nước.