Thông tin doanh nghiệp
Xây dựng công nghiệp và hạ tầng vẫn là trụ cột dẫn dắt tăng trưởng
Hiện nay những doanh nghiệp trụ cột của ngành Xây dựng đang nỗ lực trong thiết kế, thi công, xây lắp công trình..., góp phần kiến tạo hạ tầng và nâng cao chất lượng môi trường xây dựng.
Đồng thời, các doanh nghiệp này đã khẳng định được uy tín thương hiệu, tạo dựng hình ảnh tích cực trong mắt công chúng và nhà đầu tư, thể hiện bản lĩnh vững vàng với năng lực tài chính ổn định, vươn mình khẳng định vị thế sau giai đoạn khó khăn.

“Sinh khí” từ những đại công trường.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng GDP hướng tới mức cao hơn trong giai đoạn tới, xây dựng gánh vác trọng trách mở “xa lộ” cho tăng trưởng kinh tế, thông qua việc tạo nền tảng hạ tầng cho sản xuất công nghiệp, thu hút FDI và phát triển đô thị hóa. Đây là thách thức lớn, nhưng vẫn có cơ sở để hiện thực hóa khi các yếu tố thúc đẩy tăng trưởng đang hội tụ.
Thực tế, ngành xây dựng gần như luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn nền kinh tế trong 9/10 năm qua (ngoại trừ năm 2021 do gián đoạn bởi các biện pháp giãn cách xã hội toàn diện vì đại dịch). Giá trị tăng thêm (GVA) ngành xây dựng tăng lên mức 9,62% trong năm 2025, cao nhất trong 5 năm trở lại đây và vượt mức tăng trưởng GDP là 8,02%, đây được xem là mũi nhọn dẫn dắt tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Quy mô đầu tư công được duy trì ở mức chưa từng có, với các chương trình hạ tầng chiến lược như cao tốc Bắc - Nam giai đoạn 2, sân bay Long Thành, các dự án năng lượng và định hướng đường sắt tốc độ cao cho thấy Nhà nước đang sử dụng xây dựng như một công cụ chính sách vĩ mô để kích thích tổng cầu và định hình cấu trúc kinh tế.
Những tuyến cao tốc nối dài, các dự án hạ tầng quy mô lớn liên tục khởi công luồng “sinh khí” lan tỏa từ các đại công trường trọng điểm đang tạo nên bức tranh phát triển sôi động của ngành xây dựng Việt Nam hiện nay. Trong năm 2025, 3.188 km tuyến chính cao tốc Bắc - Nam đã được hoàn thành và thông xe kỹ thuật, 564 công trình, dự án trọng điểm được khởi công và khánh thành.
Theo kết quả khảo sát của Vietnam Report cho thấy dòng việc gia tăng mạnh và đồng đều trên toàn ngành: 89,9% doanh nghiệp cho biết số dự án trúng thầu tăng và 84,8% ghi nhận số dự án đang triển khai nhiều hơn năm trước. Trong khi đó, khối lượng backlog tiếp tục tăng trưởng mạnh, không chỉ phản ánh nguồn việc dồi dào của thị trường mà còn cho thấy doanh nghiệp đã tích lũy được nền tảng doanh thu cho các kỳ tiếp theo, qua đó cải thiện khả năng lập kế hoạch sản xuất, phân bổ nguồn lực và kiểm soát dòng tiền.
Bức tranh tài chính cũng thể hiện những dấu hiệu tích cực so với giai đoạn trước. 74,5% doanh nghiệp ghi nhận tăng trưởng cả về doanh thu và lợi nhuận sau thuế cho thấy dòng việc không chỉ được tạo lập mà còn được chuyển hóa hiệu quả thành kết quả kinh doanh. Cùng với đó, tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn về thiếu vốn lưu động đã giảm liên tiếp trong ba năm gần đây, phản ánh sức khỏe tài chính của nhà thầu được cải thiện một cách thực chất.

Tái định hình vị thế nhà thầu
Áp lực tìm kiếm việc làm giảm đi kéo theo cán cân thị trường và vị thế của các nhà thầu có sự thay đổi. Không còn bị cuốn vào cuộc cạnh tranh về giá, chấp nhận biên lợi nhuận mỏng hay rủi ro thanh toán cao như trước, các doanh nghiệp xây dựng có uy tín, năng lực và hồ sơ kinh nghiệm mạnh đang dần chuyển sang thế chủ động. Nhà thầu có cơ hội lựa chọn dự án và chủ đầu tư trên cơ sở hiệu quả tài chính, điều kiện thanh toán và mức độ thuận lợi trong triển khai phản ánh sự nâng tầm vị thế và mức độ trưởng thành của ngành.
Về năng lực, các doanh nghiệp xây dựng ghi nhận những bước tiến rõ rệt. Việc làm chủ các dự án ngày càng phức tạp với tiến độ nhanh và chi phí cạnh tranh không chỉ nâng cao vị thế trên thị trường mà còn tạo nền tảng để tham gia vào các công trình quy mô lớn hơn trong tương lai. Khối lượng công việc dồi dào vì vậy không chỉ mang lại tăng trưởng ngắn hạn mà còn tích lũy năng lực thi công, quản trị và tài chính cho doanh nghiệp những yếu tố cốt lõi cho một chu kỳ phát triển bền vững hơn. Sự củng cố về năng lực này đồng thời nâng cao khả năng hấp thụ các chương trình đầu tư quy mô lớn, từng bước khẳng định vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của ngành xây dựng.
Nhìn chung, xây dựng công nghiệp và hạ tầng vẫn là trụ cột dẫn dắt tăng trưởng của ngành với hai động lực chính từ: Đầu tư công ở quy mô chưa từng có kế hoạch năm 2026 đạt 1,08 triệu tỷ đồng (+12%) và giai đoạn 2026-2030 lên tới 2,8 triệu tỷ đồng, tạo nguồn việc ổn định cho ngành trong ít nhất nửa thập kỷ tới. Đây cũng là động lực tăng trưởng lớn nhất theo đánh giá của doanh nghiệp xây dựng (57,9% số doanh nghiệp bình chọn); FDI duy trì sức nóng và sản xuất công nghiệp phục hồi, vốn FDI thực hiện năm 2025 đạt 27,62 tỷ USD, cao nhất trong 5 năm, chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 2/2026 đã đạt 54,3 điểm, đánh dấu 8 tháng liên tiếp duy trì vùng mở rộng (hơn 50 điểm).
Trong khi đó, xây dựng dân dụng bước vào năm 2026 với trạng thái phục hồi có chọn lọc. Dù số lượng dự án nhà ở được cấp phép mới tăng và nhà ở xã hội được kỳ vọng tiến triển khi khung pháp lý dần hoàn thiện, cơ chế ưu đãi cho chủ đầu tư và người mua nhà được làm rõ hơn song vẫn tồn tại rủi ro áp lực tài chính từ chu kỳ đáo hạn trái phiếu bất động sản và độ trễ trong truyền dẫn chính sách. Điều này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh quá trình hoàn thiện và thực thi các cải cách pháp lý, nhằm rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn triển khai dự án.

Kiến nghị của doanh nghiệp xây dựng áp lực chi phí gia tăng.
Những cải cách pháp lý trong thời gian qua đang tái định hình cách thị trường vận hành, khơi thông dòng dự án và cải thiện tốc độ triển khai. Việc hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư công, PPP và bất động sản, đặc biệt sau khi Luật Đất đai, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản đi vào thực thi đã góp phần tái khởi động nhiều dự án, qua đó bổ sung nguồn việc mới cho ngành xây dựng. Song song với đó, việc tăng cường rà soát, sửa đổi, bổ sung và tháo gỡ vướng mắc về đơn giá, định mức đang từng bước cải thiện khả năng kiểm soát chi phí và nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án. Tuy nhiên, tác động của các cải cách này chưa đồng đều, khi vẫn có 15,8% doanh nghiệp cho rằng chưa ghi nhận thay đổi đáng kể. Dù khung pháp lý ngày càng hoàn thiện và thủ tục hành chính được rút gọn, quá trình triển khai vẫn tồn tại độ trễ và sự khác biệt giữa các địa phương cũng như loại hình dự án.
Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách theo hướng sát với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp trở thành yếu tố then chốt để duy trì đà tăng trưởng. Từ góc nhìn thị trường, các doanh nghiệp xây dựng cũng đã xác định rõ những ưu tiên chính sách cần được thúc đẩy trong thời gian tới, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn còn tồn tại và nâng cao hiệu quả triển khai dự án.
Bình ổn giá nguyên, nhiên liệu, vật liệu xây dựng là ưu tiên hàng đầu ở thời điểm hiện nay theo kiến nghị của các doanh nghiệp xây dựng (52,6%), phản ánh áp lực chi phí đầu vào đang ở mức rất cao. Thực tế, có tới 89,5% doanh nghiệp xác nhận biến động giá vật liệu là khó khăn lớn nhất ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận và khả năng kiểm soát tài chính của doanh nghiệp, trong bối cảnh giá cát san lấp và vật liệu tại các khu vực đô thị hóa nhanh vẫn biến động mạnh.
Cùng với áp lực này càng gia tăng khi yếu tố bên ngoài trở nên khó lường hơn. Diễn biến địa chính trị tại Trung Đông từ đầu năm 2026 đã khiến kéo theo toàn bộ chuỗi chi phí đầu vào của xây dựng – chi phí nhiên liệu vận hành máy móc thiết bị, vận chuyển và sản xuất vật liệu đồng loạt leo thang. Trong bối cảnh đó, kiến nghị về cơ chế bình ổn giá và điều chỉnh hợp đồng linh hoạt không chỉ mang tính ngắn hạn, mà trở thành yêu cầu cấp thiết để bảo vệ dòng tiền và hạn chế rủi ro cho nhà thầu, đặc biệt với các hợp đồng trọn gói hoặc đơn giá cố định.
“Cơn khát” nhân lực, nút thắt của thời kỳ tăng trưởng mới.
Trong bối cảnh khối lượng công việc gia tăng nhanh chóng, thiếu hụt nhân lực đang nổi lên như một trong những điểm nghẽn lớn nhất của ngành xây dựng. Bài toán hiện nay không chỉ nằm ở số lượng, mà còn ở chất lượng và cơ cấu lao động, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư, chỉ huy công trường và lao động kỹ thuật lành nghề.
Nguồn cung lao động chưa theo kịp tốc độ mở rộng của các đại công trường. Làn sóng đầu tư công quy mô lớn, cùng với sự phục hồi của xây dựng công nghiệp và hạ tầng, đang tạo ra nhu cầu nhân lực tăng đột biến trong khi lực lượng lao động sau giai đoạn khó khăn trước đó có xu hướng dịch chuyển sang các ngành khác ổn định hơn. Điều này dẫn đến tình trạng cạnh tranh nhân sự ngày càng gay gắt giữa các nhà thầu, đẩy chi phí nhân công tăng và gây áp lực lên tiến độ triển khai dự án. Khoảng trống lớn nhất nằm ở nhân lực có khả năng triển khai các dự án phức tạp nơi yêu cầu cao về quản trị, công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế. Chẳng hạn, với hàng loạt dự án quy mô chưa từng có xuất hiện - đường sắt tốc độ cao, nhà máy điện LNG, các tuyến metro, cảng nước sâu thế hệ mới - câu hỏi về năng lực thực thi đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết.
Về dài hạn, bài toán nhân lực không chỉ là vấn đề tuyển dụng, mà là vấn đề hệ sinh thái từ đào tạo, giữ chân đến nâng cao năng suất lao động. Khi khối lượng công việc tiếp tục duy trì ở mức cao, những doanh nghiệp có chiến lược phát triển nhân lực bài bản, ứng dụng công nghệ và tối ưu hóa tổ chức thi công sẽ có lợi thế rõ rệt. Ngược lại, nếu không giải quyết được “cơn khát” nhân lực, đây sẽ là yếu tố giới hạn khả năng hấp thụ đầu tư và tốc độ tăng trưởng của toàn ngành.
Theo đó, vào ngày 27/3/2026, Công ty Cổ phần Báo cáo Đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) chính thức công bố Top 10 & Top 5 Công ty uy tín ngành Xây dựng năm 2026.
