Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp

Nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao năm 2026

Lê Mỹ 03/04/2026 16:00

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, nhu cầu huy động các nguồn vốn trung và dài hạn ổn định ngày càng trở nên cấp thiết.

Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup & FiinRatings cho biết, thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) vì vậy được xác định là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Triển vọng tăng trưởng và nhu cầu vốn

Mặc dù trải qua nhiều biến động trong thời gian qua, thị trường TPDN Việt Nam đã bước đầu hình thành những nền tảng cơ bản. Tuy nhiên, để thị trường thực sự phát huy vai trò, cần chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhu cầu vốn của khu vực doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, vẫn ở mức rất lớn, ông Nguyễn Quang Thuân chia sẻ tại Diễn đàn Thị trường Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam 2026 với chủ đề “Củng cố niềm tin, tính minh bạch và phát triển cơ sở hạ tầng cho mục tiêu tăng trưởng bền vững” vừa được tổ chức.

Ông Nguyễn Quang Thuân
Ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup & FiinRatings

Chủ tịch FiinGroup & FiinRatings nhấn mạnh, việc phát triển thị trường TPDN theo chiều sâu không chỉ tạo tiền đề cho sự hoàn thiện của thị trường vốn nói chung, mà còn mở ra cơ hội thu hút mạnh mẽ hơn dòng vốn từ các định chế tài chính quốc tế. Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam đã gia tăng đáng kể, đặc biệt sau khi thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi theo chuẩn FTSE Russell. Trong xu hướng này, bên cạnh cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp ngày càng được xem là một lớp tài sản quan trọng trong danh mục đầu tư.

Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển chiều sâu, bên cạnh vai trò kiến tạo của cơ quan quản lý thông qua các chính sách và khung pháp lý, cần có sự chung tay của toàn bộ các thành viên trên thị trường. Trọng tâm là phát triển và đa dạng hóa nguồn cung, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, nâng cao vai trò của các định chế tài chính trung gian, cũng như chuẩn hóa và minh bạch thông tin trong toàn bộ vòng đời của trái phiếu – từ trước phát hành đến sau phát hành.

Ông Thuân khẳng định những nỗ lực đồng bộ này sẽ góp phần cải thiện thanh khoản, nâng cao tính minh bạch và gia tăng sức hấp dẫn của thị trường trái phiếu doanh nghiệp, hướng tới một thị trường phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững trong dài hạn.

Tại Diễn đàn, nhận định về triển vọng tăng trưởng của Việt Nam và nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng cao, ông Kim Eng Tan – Giám đốc - Xếp hạng Tín nhiệm Quốc gia Châu Á - Thái Bình Dương, S&P Global Ratings khẳng định: “Nền kinh tế nào thu hút được tỷ trọng đầu tư lớn hơn sẽ có lợi thế cạnh tranh so với các nền kinh tế khác, qua đó củng cố các chỉ số tín dụng của chính phủ. Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đang cho thấy điều này.

“Chính phủ Việt Nam đã kết hợp môi trường kinh doanh thuận lợi với đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng, đồng thời duy trì cách tiếp cận cân bằng trong quan hệ đối ngoại. Kết quả là tăng trưởng kinh tế được cải thiện. Việt Nam cũng trở thành điểm đến phổ biến đối với các công ty/đơn vị sản xuất đang tìm cách dịch chuyển khỏi Trung Quốc nhằm quản lý những rủi ro đến từ thuế quan cao hoặc chi phí sản xuất gia tăng tại thị trường nội địa.

“Trong một năm có nhiều biến động lớn cả trên bình diện quốc tế và trong nước, Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng GDP thực đạt 8,05% trong năm 2025. Cam kết của Chính phủ trong việc mở rộng đầu tư cơ sở hạ tầng được kỳ vọng sẽ mang lại thêm nhiều năm tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, các khoản đầu tư này có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách tài khóa cao hơn và thặng dư tài khoản vãng lai thấp hơn, phần nào bù trừ các lợi ích đạt được", đại diện S&P Global Ratings nói.

fiin.jpg
Ông Kim Eng Tan (trái) và ông Nguyễn Anh Quân (phải) tại Diễn đàn Thị trường Trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam năm 2026. Ảnh: FiinGroup.

Ông cũng cho biết, "mặc dù rủi ro địa chính trị đang quay trở lại, các dự báo kinh tế mới nhất của nhóm nghiên cứu chúng tôi về Việt Nam (công bố ngày 25/03/2026) cho thấy Việt Nam sẽ tiếp tục là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất tại châu Á (không bao gồm Ấn Độ) trong ba năm tới. S&P Global Ratings dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt trung bình 6,7% mỗi năm trong giai đoạn 2026–2028, được hỗ trợ bởi nhu cầu gia tăng đối với các mặt hàng xuất khẩu liên quan đến công nghệ. Việt Nam là một trong số các nền kinh tế tại châu Á đang được hưởng lợi từ việc tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng điện tử chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu".

Tái cân bằng cấu trúc thị trường tài chính

Từ góc nhìn chuyên môn của Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế Tài chính, FiinRatings ông Nguyễn Anh Quân cũng nhìn nhận, Việt Nam bước vào năm 2026 với động lực tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sau mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2025, cùng với mục tiêu đầy tham vọng đạt mức tăng trưởng GDP hai chữ số trong những năm tới. Theo báo cáo của FiinGroup công bố vào ngày 28/01/2026, để đạt được mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội được định hướng tăng và đạt gần 40% GDP, hàm ý về sự thiếu hụt nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế có thể dao động trong khoảng 20 - 30 tỷ USD mỗi năm.

Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng là nguồn cung vốn chủ đạo cho quá trình phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi tỷ lệ tín dụng trên GDP của toàn hệ thống đã vượt 140%, các hạn chế mang tính cấu trúc ngày càng trở nên rõ rệt. Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng cũng đối mặt với rủi ro chênh lệch kỳ hạn khi phần lớn tiền gửi có kỳ hạn ngắn, trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế – đặc biệt là đối với các dự án cơ sở hạ tầng – lại mang tính dài hạn. Do đó, tín dụng ngân hàng khó có thể một mình tiếp tục đáp ứng nhu cầu vốn cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, ông Quân cho biết.

Theo Giám đốc Xếp hạng Khối Định chế Tài chính, FiinRatings, hướng tới năm 2026, triển vọng ngành ngân hàng được kỳ vọng sẽ chuyển từ giai đoạn tăng trưởng nhanh sang tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, trong đó sức mạnh vốn và khả năng chống chịu thanh khoản sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng.

Ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy khả năng duy trì lợi nhuận trong năm 2025 mặc dù biên lãi thuần bị thu hẹp đáng kể, giảm xuống 2,9% so với mức 3,5% của năm 2024. Trong khi biên lãi thuần được dự báo tiếp tục duy trì dưới 3,0% trong năm 2026 do chi phí vốn tăng và lợi suất cho vay phải duy trì ở mức thấp nhằm hỗ trợ khách hàng, khả năng sinh lời của các ngân hàng đang được hỗ trợ bởi sự dịch chuyển chiến lược sang các nguồn thu ngoài lãi, ước tính chiếm khoảng 23,8% tổng thu nhập hoạt động vào cuối năm 2025. Các ngân hàng đang có xu hướng ngày càng đẩy mạnh các dịch vụ thu phí như môi giới, phí đại lý, dịch vụ bảo lãnh L/C, cũng như tăng cường thu hồi nợ xấu nhằm bù đắp cho áp lực suy giảm biên lãi ròng.

Ở chiều ngược lại, áp lực chất lượng tài sản được kỳ vọng sẽ gia tăng trong năm 2026 khi tăng trưởng tín dụng chậm lại và hoạt động xóa sổ nợ xấu mạnh của năm 2025 trở về mức bình thường, trong khi các ngân hàng bước vào năm 2026 với bộ đệm dự phòng ở mức thấp nhất kể từ năm 2021.

Đồng thời, áp lực thanh khoản đã quay trở lại từ cuối năm 2025 và nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong năm 2026 do tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa tăng trưởng tiền gửi. Khoảng cách ngày càng nới rộng này buộc nhiều tổ chức phải giảm lượng tài sản thanh khoản nắm giữ và phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn liên ngân hàng có chi phí cao cũng như phát hành trái phiếu để xử lý vấn đề chênh lệch kỳ hạn mang tính cấu trúc.

Trong bối cảnh đó, thị trường TPDN được kỳ vọng trở thành kênh dẫn vốn quan trọng, không chỉ bổ trợ mà dần tiến tới chia sẻ vai trò trung tâm với hệ thống ngân hàng. Đây không đơn thuần là một lựa chọn chính sách, mà là yêu cầu tất yếu để tái cân bằng cấu trúc thị trường tài chính.

Lê Mỹ