Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Thu nhập vãng lai bị trừ 10% thuế: Thuận cho quản lý, khó cho người dân?

Nguyễn Giang 05/04/2026 04:05

Chuyên gia cho rằng, việc khấu trừ 10% thuế ngay khi chi trả giúp cơ quan quản lý thuận lợi, nhưng lại đẩy gánh nặng hoàn thuế về phía người lao động, nhất là nhóm thu nhập nhỏ, không ổn định…

Đề xuất nâng ngưỡng thu nhập vãng lai bị khấu trừ thuế thu nhập cá nhân từ 2 lên 3 triệu đồng/lần cho thấy cơ quan quản lý đã bắt đầu điều chỉnh một bất cập tồn tại nhiều năm.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào con số điều chỉnh, rất dễ bỏ qua câu hỏi cốt lõi: vấn đề nằm ở mức khấu trừ hay ở cách thức thu thuế?

h0tpyyki.jpg
Chuyên gia cho rằng, việc khấu trừ 10% ngay khi chi trả giúp cơ quan quản lý thuận lợi, nhưng lại đẩy gánh nặng hoàn thuế về phía người lao động, nhất là nhóm thu nhập nhỏ, không ổn định. Ảnh minh hoạ

Theo dự thảo, cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng, khi nhận thu nhập từ tiền công, tiền thù lao từ 3 triệu đồng/lần trở lên, sẽ bị khấu trừ 10% trước khi chi trả. Đây là cơ chế tạm thu nhằm hạn chế thất thu thuế đối với các khoản thu nhập nhỏ lẻ, phân tán.

Nhiều ý kiến cho rằng, về nguyên tắc quản lý, cách làm này không mới. Nhưng trên thực tế, điều này đang tạo ra một vòng lặp khiến nhiều người lao động rơi vào thế bị động.

Người nhận thu nhập bị khấu trừ ngay 10%; nếu tổng thu nhập cả năm không đến ngưỡng chịu thuế thì lại phải đi quyết toán để được hoàn lại. Và vấn đề nằm ở chỗ, không phải ai cũng thực hiện được bước cuối cùng.

Với nhóm lao động thời vụ, cộng tác viên, người làm việc ngắn hạn hoặc có nguồn thu từ nhiều nơi, thu nhập vãng lai thường không lớn. Nhưng chỉ cần một lần nhận tiền vượt ngưỡng, 10% đã bị giữ lại ngay tại nguồn. Khoản tiền này, trên lý thuyết chỉ là tạm thu, nhưng trên thực tế có thể bị “treo” trong nhiều tháng, thậm chí không quay lại với người lao động.

Không ít trường hợp gặp vướng mắc trong quá trình hoàn thuế. Điển hình như thiếu chứng từ khấu trừ, không nắm rõ quy trình, hoặc phải bỏ thêm chi phí để thuê dịch vụ làm thủ tục. Điều này khiến một phần thu nhập của người lao động bị giữ lại mà không dễ lấy lại.

Ở góc độ chính sách, điểm đáng chú ý là cơ chế hiện hành đang xử lý thuế theo từng lần chi trả, thay vì dựa trên tổng thu nhập sau giảm trừ. Trong khi đó, bản chất của thuế thu nhập cá nhân là phải phản ánh khả năng nộp thuế thực tế của từng người, sau khi đã tính đến các yếu tố như giảm trừ gia cảnh, người phụ thuộc.

Khi một khoản thu nhập riêng lẻ bị khấu trừ ngay 10% mà không xét đến tổng thể, sẽ có những trường hợp người có thu nhập cả năm chưa đến ngưỡng chịu thuế vẫn bị “tạm thu” trước một phần thu nhập của mình.

Theo các chuyên gia pháp lý, điều này tạo ra một nghịch lý: chính sách được thiết kế để chống thất thu, nhưng lại có thể khiến nhóm thu nhập thấp hoặc thu nhập không ổn định chịu tác động nhiều hơn.

Thực tế cho thấy, với người có thu nhập cao hoặc ổn định, việc quyết toán thuế không phải trở ngại lớn. Nhưng với lao động tự do, người làm việc ngắn hạn, khoản 10% bị khấu trừ ngay lại là phần thu nhập ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu trước mắt. Nếu không hoàn lại được, khoản “tạm thu” này gần như trở thành chi phí thực tế.

Do đó, nhiều ý kiến nhận định rằng, đề xuất nâng ngưỡng lên 3 triệu đồng/lần vì vậy mới chỉ xử lý một phần của vấn đề. Nếu cách thu vẫn giữ nguyên, thì bản chất bất cập khó thay đổi.

Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc điều hành Công ty Luật L&A Legal Experts. Ả
Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc Công ty Luật L&A Legal Experts.

Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, Luật sư Lê Thị Nhung - Giám đốc Công ty Luật L&A Legal Experts cho rằng, cần phân biệt rõ giữa mục tiêu quản lý và nguyên tắc công bằng trong đánh thuế.

Theo bà, khấu trừ tại nguồn là công cụ cần thiết để kiểm soát các khoản thu nhập vãng lai vốn khó theo dõi. Tuy nhiên, nếu áp dụng một tỷ lệ cố định trên từng lần chi trả mà không xét đến tổng thu nhập sau giảm trừ, chính sách có thể đi lệch khỏi bản chất của thuế thu nhập cá nhân.

“Thuế thu nhập cá nhân phải được xác định trên cơ sở thu nhập thực sau khi đã tính các khoản giảm trừ. Nếu chỉ nhìn vào từng khoản chi trả và khấu trừ theo tỷ lệ cố định, sẽ có trường hợp người chưa đến ngưỡng chịu thuế vẫn bị giữ lại tiền”, Luật sư Lê Thị Nhung phân tích.

Theo bà, bất cập lớn nhất không nằm ở con số 2 hay 3 triệu đồng, mà ở việc thu nhập vãng lai đang bị “cắt khúc” để khấu trừ, trong khi nghĩa vụ thuế đúng ra phải được nhìn trên tổng thu nhập cả năm.

“Cùng một mức thu nhập, nhưng nếu hoàn cảnh giảm trừ khác nhau thì nghĩa vụ thuế cũng khác nhau. Việc áp dụng một cách khấu trừ giống nhau cho mọi trường hợp sẽ thuận cho quản lý, nhưng chưa chắc phản ánh đúng bản chất thu nhập chịu thuế”, bà Nhung cho biết.

Luật sư Lê Thị Nhung cũng nhấn mạnh tác động về dòng tiền. Với người thu nhập không ổn định, 10% bị khấu trừ ngay không chỉ là con số trên giấy, mà là khoản tiền ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt.

“Nếu thủ tục hoàn thuế còn phức tạp hoặc người lao động không đủ điều kiện thực hiện, thì cơ chế này vô hình trung tạo thêm gánh nặng cho nhóm yếu thế hơn”, bà Nhung nhận định.

Theo bà, nếu muốn điều chỉnh chính sách theo hướng hợp lý hơn, cần nhìn xa hơn việc nâng ngưỡng. Một là phải đơn giản hóa thực chất thủ tục hoàn thuế để người không phải nộp thuế có thể nhận lại tiền dễ dàng. Hai là cần mở rộng cơ chế không khấu trừ ngay đối với trường hợp có cam kết thu nhập chưa đến ngưỡng chịu thuế. Ba là nghiên cứu cách tiếp cận linh hoạt hơn với thu nhập nhỏ lẻ, thay vì áp dụng một tỷ lệ cố định cho mọi trường hợp.

“Khi người dân phải “nộp trước, xin lại sau”, trong khi không phải ai cũng có điều kiện thực hiện đầy đủ thủ tục, thì cảm giác thiếu hợp lý là điều khó tránh. Chính sách thuế cần hướng tới sự công bằng và thuận lợi, không chỉ dừng ở mục tiêu quản lý”, Luật sư Lê Thị Nhung nhấn mạnh.

Nguyễn Giang