Kiến nghị
Hoàn thiện “kỹ thuật” pháp lý cho hoạt động cho vay
Không chỉ dừng ở các vướng mắc liên quan đến tài chính số, nhiều góp ý của VCCI cho thấy Dự thảo sửa đổi Thông tư 39/2016 vẫn cần được hoàn thiện về kỹ thuật pháp lý.
Bên cạnh những băn khoăn về quy định cho vay bằng phương tiện điện tử, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng một số nội dung khác trong Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Dự thảo) cũng đang bộc lộ khoảng trống, có thể gây khó khăn cho tổ chức tín dụng trong quá trình áp dụng.
Góp ý đối với quy định tại Điều 4 Dự thảo về thứ tự thu nợ, VCCI cho rằng cách thiết kế hiện nay vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, có thể gây lúng túng trong quá trình áp dụng thực tế.
Theo Dự thảo, tổ chức tín dụng (TCTD) và khách hàng được thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc và lãi; riêng đối với khoản vay bị quá hạn, phải thực hiện theo nguyên tắc thu nợ gốc trước, lãi sau. Tuy nhiên, doanh nghiệp phản ánh quy định này chưa bao quát hết các tình huống phát sinh.

Thực tế, nhiều khoản vay vừa có phần nợ trong hạn, vừa có phần nợ quá hạn, hoặc chỉ quá hạn một số kỳ nhưng bị chuyển toàn bộ khoản vay sang nợ quá hạn. Khi đó, cấu trúc khoản nợ trở nên phức tạp, bao gồm nhiều thành phần như nợ gốc trong hạn, nợ gốc quá hạn, lãi trên từng phần nợ và cả lãi chậm trả. Dự thảo hiện chưa làm rõ thứ tự thu đối với các cấu phần này, cũng như phạm vi quyền thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng.
Bên cạnh đó, khái niệm “khoản nợ vay” trong Dự thảo cũng chưa được định nghĩa cụ thể, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau có thể là toàn bộ khoản vay theo hợp đồng tín dụng, cũng có thể là từng khế ước nhận nợ hoặc từng kỳ hạn trả nợ. Điều này đặc biệt gây khó khăn trong trường hợp khách hàng có nhiều khoản vay hoặc nhiều hợp đồng tín dụng cùng bị quá hạn.
Một vấn đề khác được VCCI nêu ra là tính khả thi đối với các khoản vay giá trị nhỏ, giải ngân và thu nợ theo tuần hoặc theo tháng, phổ biến tại các tổ chức tài chính vi mô. Nếu áp dụng cứng nhắc nguyên tắc “gốc trước, lãi sau”, khách hàng sẽ khó theo dõi nghĩa vụ trả nợ, đồng thời có thể phát sinh tình trạng lãi tồn đọng lâu ngày, ảnh hưởng đến phân loại nợ và lịch sử tín dụng.
Từ những bất cập trên, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ phạm vi áp dụng của khái niệm “khoản nợ vay bị quá hạn”, xác định cụ thể thứ tự thu giữa các loại nợ gốc và nợ lãi, đồng thời cho phép TCTD và khách hàng được thỏa thuận linh hoạt trong những trường hợp khoản vay có nhiều kỳ hạn hoặc khách hàng có nhiều hợp đồng tín dụng. Việc hoàn thiện theo hướng minh bạch, thống nhất và sát thực tiễn sẽ giúp giảm thiểu vướng mắc, nâng cao tính khả thi của quy định khi đi vào cuộc sống.
Bên cạnh đó, Điều 7 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định một trong các điều kiện để cho vay là khách hàng có khả năng trả nợ. Tuy nhiên, không có tiêu chí hoặc nguyên tắc đánh giá cụ thể để xác định khả năng tài chính của khách hàng.
Theo VCCI, việc này dẫn đến áp dụng giữa các tổ chức tín dụng có thể chưa thống nhất và phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của từng đơn vị, cũng như phụ thuộc vào từng quan điểm của cơ quan thanh, kiểm tra (khi tiến hành thanh tra TCTD).
Theo thông lệ quốc tế và các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của Basel, việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường được thực hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng và mô hình chấm điểm tín dụng như điểm tín nhiệm (credit score), tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ trên thu nhập (Debt-to-Income – DTI), hệ số đảm bảo trả nợ (Debt Service Coverage Ratio – DSCR) hoặc các chỉ tiêu tài chính tương đương.
Do vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng làm rõ nguyên tắc, tiêu chí đánh giá khả năng tài chính của khách hàng, ví dụ: “Khách hàng được xem là có khả năng tài chính để trả nợ khi tổ chức tín dụng đánh giá, trên cơ sở thông tin và dữ liệu hợp pháp, rằng khách hàng có nguồn thu nhập, dòng tiền hoặc tài sản đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng”.

Đồng thời cho phép TCTD xây dựng tiêu chí nội bộ để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, bao gồm các chỉ tiêu định lượng và định tính phù hợp với từng phân khúc khách hàng.
Nếu các quy định về tài chính số đặt ra yêu cầu phải theo kịp thực tiễn, thì với các nội dung mang tính kỹ thuật pháp lý, yêu cầu cao hơn là cần đi trước một bước để định hình hành lang ổn định cho thị trường. Trong bối cảnh thị trường tín dụng đang chuyển dịch nhanh cả về công nghệ lẫn mô hình vận hành, việc hoàn thiện Dự thảo theo hướng rõ ràng, thống nhất và tiệm cận thực tiễn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là điều kiện quan trọng để chính sách thực sự phát huy hiệu quả.