Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Thị trường carbon Việt Nam: Doanh nghiệp cần chủ động “cuộc chơi”

Lê Hà 17/04/2026 05:00

VCCI chủ trì tổ chức Diễn đàn: “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon” vào ngày 17/4/2026 tại Khách sạn Intercontinental Westlake, Hà Nội.

Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, thị trường carbon đang nổi lên như một công cụ kinh tế quan trọng, không chỉ giúp giảm phát thải mà còn tái cấu trúc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và dần trở thành một loại “tài sản”. Tuy nhiên, để thị trường này thực sự vận hành hiệu quả, Việt Nam cần đồng thời hoàn thiện khung chính sách và nâng cao năng lực nội tại của khu vực doanh nghiệp.

carbon-1.jpg
Hạn ngạch phát thải mở ra cơ hội cho những doanh nghiệp sở hữu công nghệ sạch có thêm thặng dư tín chỉ để bán.

Theo PSG, TS Nguyễn Ngọc Hà – Viện trưởng Viện Nghiên cứu sáng tạo, Đại học Ngoại thương, thị trường carbon không chỉ là công cụ môi trường, mà còn là “đòn bẩy kinh tế” cho chuyển đổi xanh. Nếu được thiết kế và vận hành hiệu quả, đây sẽ là kênh huy động nguồn lực xã hội quy mô lớn cho phát triển bền vững. Tuy nhiên, cơ hội này chỉ trở thành hiện thực khi cả Nhà nước và doanh nghiệp cùng chuyển động: chính sách phải đi trước một bước, còn doanh nghiệp phải nâng cấp năng lực để không bị tụt lại phía sau.

“Rào cản” đối với doanh nghiệp

Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở chính năng lực nội tại của doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chưa thiết lập được hệ thống kiểm kê và giám sát phát thải (MRV) một cách bài bản, dẫn đến việc không thể xác định chính xác “dấu chân carbon” của mình. Khi không đo lường được, doanh nghiệp cũng không thể quản lý hay xây dựng chiến lược giảm phát thải hiệu quả. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho công nghệ xanh và chuyển đổi sản xuất vẫn ở mức cao, trong khi các cơ chế hỗ trợ tài chính chưa thực sự rõ nét, khiến nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư và triển khai.

Không chỉ dừng lại ở vấn đề kỹ thuật và tài chính, sự thiếu đồng bộ trong khung chính sách cũng đang làm gia tăng tâm lý chờ đợi. Các quy định về phân bổ hạn ngạch phát thải, tiêu chuẩn tín chỉ carbon hay cơ chế giao dịch vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, khiến doanh nghiệp khó có cơ sở để tính toán bài toán đầu tư dài hạn. Trong một “cuộc chơi” mà luật lệ chưa rõ ràng, việc đứng ngoài quan sát trở thành lựa chọn an toàn của không ít doanh nghiệp. Mặc dù họ hiểu rằng, việc chậm chân hôm nay có thể đồng nghĩa với mất lợi thế cạnh tranh trong tương lai.

Sớm lấp những khoảng trống pháp lý

Những năm gần đây, Việt Nam đã có bước tiến nhanh trong xây dựng thị trường carbon. Từ nền tảng của Luật Bảo vệ môi trường 2020, hàng loạt chính sách và nghị định đã được ban hành nhằm thiết lập hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon.
Đầu năm 2025, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã hình thành hành lang pháp lý để chuẩn bị vận hành thị trường carbon tại Việt Nam.

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 về Sàn giao dịch carbon trong nước. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 263/QĐ-TTg ngày 9/2/2026 phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025-2026.

Trên cơ sở tổng hạn ngạch này, ông Nguyễn Tuấn Quang, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu cho biết Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 699/QĐ-BNNMT ngày 27/2/2026 thí điểm phân bổ hạn ngạch cho các cơ sở phát thải khí nhà kính năm 2025 và 2026. Theo đó, 110 cơ sở trong lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép, xi măng đã được phân bổ hạn ngạch. Đây là giai đoạn thí điểm, giúp doanh nghiệp làm quen với cơ chế thị trường trước khi vận hành chính thức vào khoảng năm 2028–2029. Hiện nay, các bộ, ngành liên quan và các cơ quan đang triển khai hoàn thiện các các bài toán nghiệp vụ để sớm vận hành sàn giao dịch carbon.

Tuy vậy, theo các chuyên gia, khung pháp lý hiện vẫn tồn tại những “khoảng trống” đáng kể. Các vấn đề như định danh pháp lý của tín chỉ carbon, cơ chế liên thông với thị trường quốc tế, hay quy định về tài sản carbon trong hệ thống tài chính vẫn chưa được làm rõ. Điều này có thể tạo ra rủi ro cho cả doanh nghiệp lẫn tổ chức tài chính khi tham gia thị trường.

Một thách thức khác là tính đồng bộ chính sách. Thị trường carbon không chỉ là câu chuyện của ngành môi trường, mà còn liên quan chặt chẽ đến tài chính, công nghiệp, năng lượng và thương mại. Nếu thiếu sự phối hợp liên ngành, thị trường có thể bị phân mảnh và kém hiệu quả.

carbon 2

Doanh nghiệp cần chủ động thích ứng

Theo TS Nguyễn Phương Nam - Đánh giá viên quốc tế của UNFCCC, mục tiêu của EU là một phần trong chiến lược Thỏa thuận xanh châu Âu, nhằm đưa châu Âu trở thành lục địa trung hòa carbon vào năm 2050. Điều này báo hiệu rằng các yêu cầu về khí hậu sẽ ngày càng khắt khe hơn trong thương mại quốc tế, ảnh hưởng rõ rệt đến các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như thép, xi măng, nhôm và dệt may. Các ngành này sẽ chịu áp lực từ Cơ chế Điều chỉnh biên giới carbon (CBAM), khi EU đưa chi phí carbon vào giá hàng nhập khẩu.

Yêu cầu minh bạch carbon sẽ mở rộng ra toàn bộ chuỗi cung ứng, đòi hỏi các ngành như dệt may, da giày và nông sản của Việt Nam phải kiểm soát phát thải tốt hơn. Xu hướng tiêu dùng xanh tại EU cũng đang tăng tốc, với người tiêu dùng ưu tiên các sản phẩm bền vững và phát thải thấp. Điều này tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận các phân khúc giá trị cao hơn nếu chuyển đổi sớm.
Trong giai đoạn đầu, phần lớn hạn ngạch phát thải được phân bổ miễn phí nhằm giúp doanh nghiệp thích nghi với cơ chế mới. Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc áp lực thực sự sẽ gia tăng trong các giai đoạn tiếp theo, khi việc mua bán hạn ngạch và tín chỉ trở thành nghĩa vụ bắt buộc.

Thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang ở trạng thái “bị động” trước thị trường carbon. Những hạn chế phổ biến bao gồm: Thiếu hệ thống đo lường, báo cáo và kiểm kê khí nhà kính (MRV); Thiếu hiểu biết về cơ chế giao dịch carbon; Hạn chế về công nghệ giảm phát thải;... Trong khi thị trường carbon toàn cầu đã vượt quy mô 100 tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng mạnh. Điều này cho thấy nếu không nâng cao năng lực, doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ bị “gạt ra bên lề” trong chuỗi giá trị xanh toàn cầu. Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chủ động hơn nữa trong “cuộc chơi” này.

PGS, TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam: Cần rà soát dữ liệu và phân bổ sát thực tế sản xuất

Long xi mang

Thực tế, đầu năm 2026 Thủ tướng chính phủ mới ký Quyết định số 263/2026/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 – 2026 cho 3 ngành sản xuất nhiệt điện, thép và xi măng. Việc phân bổ hạn ngạch là đúng quy trình, vì đây là bước cần thiết để tiến tới mục tiêu NetZero vào năm 2050.

Mặt khác, theo Điều 17 thì giai đoạn đến năm 2028 nước ta mới thực hiện 4 nội dung: Thiết lập Hệ thống đăng ký quốc gia; Xây dựng, tổ chức vận hành thí điểm Sàn giao dịch các-bon trong nước; Triển khai cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và triển khai các hoạt động tăng cường năng lực, nâng cao nhận thức về phát triển thị trường các-bon.

Đến năm 2029 chúng ta mới xây dựng và thực hiện cơ chế đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính; Hoàn thiện quy định quản lý tín chỉ các-bon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon; quy định pháp luật về tổ chức, quản lý, vận hành thị trường các-bon trong nước và tham gia thị trường các-bon thế giới.

Theo tôi, có lẽ vấn đề chúng ta cần trao đổi hiện nay là Nhà nước mà đơn vị được Thủ tướng Chính phủ giao trực tiếp thực hiện việc phân bổ hạn ngạch là Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần làm thế nào để phân bổ hạn ngạch cho các doanh nghiệp được chính xác, sát với thực tế sản xuất kinh doanh, sao cho việc phân bổ hạn ngạch có tác dụng khuyến khích, tạo sức ép để các doanh nghiệp giảm phát thải carbon và vẫn thực hiện được sản xuất, kinh doanh có lãi.

Đồng thời, để các doanh nghiệp hiểu rõ về hạn ngạch carbon được phân bổ, áp dụng các giải pháp để giảm phát thải carbon sao cho mức phát thải không vượt quá hạn ngạch được giao. Sau giai đoạn thí điểm, các doanh nghiệp sẽ tự tính toán được mình sẽ là người bán hay người mua tín chỉ carbon. Đó là điều Nhà nước và doanh nghiệp cần tập trung làm từ nay đến 2029.

Vì hiện nay chúng ta chưa có loại hàng hóa “tín chỉ carbon” để trao đổi trên thị trường carbon trong nước và cũng chưa có chợ (Sàn giao dịch các-bon trong nước) để mua bán loại hàng hóa này. Theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bằng Nghị định số 119/2025/NĐ-CP thì đối tượng thực hiện trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính là cơ sở được phân bổ hạn ngạch quy định tại Điều 12 Nghị định này.

TS Nguyễn Phương Nam – Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP Hồ Chí Minh, Chuyên gia đánh giá quốc tế của UNFCCC về Biến đổi khí hậu: “Chìa khoá” thúc đẩy thị trường carbon Việt Nam

Mr Nam
Mr Nam

Tôi cho rằng chìa khóa để thúc đẩy thị trường carbon chính là việc tạo điều kiện thí điểm cho một số doanh nghiệp có được hàng hoá là tín chỉ carbon bên cạnh hạn ngạch phát thải được phân bổ cho một số doanh nghiệp đã nêu tên trong Quyết định 263/QĐ-TTg.

Tín chỉ carbon là loại hàng hoá mới, khá đặc thù, cần nhiều yếu tố kỹ thuật. Để có được hàng hoá tín chỉ carbon này đòi hỏi doanh nghiệp dành thời gian đầu tư ban đầu khá dài, nhiều thủ tục và thông tin kỹ thuật. Bên cạnh đó, hiện doanh nghiệp vẫn nhiều rủi ro về mặt pháp lý về mặt quyền sở hữu loại hàng hoá này khi tiến hành tự bỏ kinh phí đầu tư cho các dự án giảm nhẹ phát thải và tạo tín chỉ carbon.

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành danh sách phương pháp luận tạo tín chỉ carbon và danh sách Tổ chức thẩm định độc lập bên thứ ba được quốc gia chấp thuận cho từng loại hình dự án được đề cập trong phụ lục của Nghị định 112/2026/NĐ-CP. Việc này sẽ giúp doanh nghiệp tại Việt Nam chủ động sớm trong việc xây dựng dự án đăng ký tín chỉ, đồng thời tạo ra một sân chơi rõ ràng cho tất cả các thực thể tham gia thị trường.

Cuối cùng, tôi cho rằng các cơ quan bộ, ngành cùng VCCI tổ chức thêm nhiều khóa đào tạo, hướng dẫn doanh nghiệp về thị trường carbon nội địa và quy trình hiện hành để giúp các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

Lê Hà