Doanh nghiệp
THỊ TRƯỜNG CÁC-BON: Nền tảng thể chế vững mạnh tạo niềm tin cho thị trường Việt Nam
Thông qua việc hợp tác, chia sẻ kiến thức, Việt Nam và Australia có thể đẩy nhanh tiến độ và giảm thiểu rủi ro thông qua phát triển thị trường các-bon.

Phát biểu tại Diễn đàn "Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon", ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước cho biết, kinh nghiệm của Australia cho thấy thị trường các-bon không thể được xây dựng trong một sớm một chiều, mà cần phát triển theo thời gian thông qua các cách tiếp cận chính sách khác nhau.
Chính điều này khiến Australia trở thành một trường hợp tham chiếu hữu ích, khi chúng tôi đã thử nghiệm nhiều mô hình khác nhau với thông điệp cốt lõi là quá trình hoạch định và triển khai cần thời gian.
Ông Simpson cho biết, bài học cần lưu ý là thể chế, lộ trình triển khai và tính tin cậy quan trọng hơn bất kỳ thiết kế chính sách đơn lẻ nào.
Hiện nay, thị trường các-bon đã trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống kinh tế toàn cầu khi không chỉ gắn với các cam kết khí hậu mà còn liên quan trực tiếp đến thương mại và tài chính.
Các cơ chế như điều chỉnh biên giới các-bon của EU (CBAM) đang gắn các-bon với năng lực cạnh tranh thương mại. Đồng thời, Điều 6 của Thỏa thuận Paris mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính các-bon toàn cầu, hỗ trợ các quốc gia thực hiện các cam kết khí hậu.
Tuy nhiên, ông Simpson nhận định thách thức lớn hiện nay không phải là nhu cầu, mà là nguồn cung tín chỉ các-bon có độ tin cậy cao, được bảo đảm bởi các hệ thống quản lý chặt chẽ.
Australia không áp dụng một mô hình duy nhất, mà trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh chính sách. Dù có nhiều thay đổi, nền tảng cốt lõi, bao gồm quản trị, hệ thống báo cáo phát thải và khung pháp lý luôn được duy trì ổn định. Ông Simpson nhấn mạnh: "Chính những yếu tố này tạo dựng niềm tin thị trường và đảm bảo tính bền vững".
Trong hơn một thập kỷ, Australia đã chuyển từ các hệ thống cấp bang sang khung quốc gia, từ cơ chế định giá các-bon sang Quỹ Giảm phát thải, và hiện nay là Cơ chế Safeguard tập trung vào các cơ sở phát thải lớn.
Cụ thể, chính sách của Chính phủ Australia nhắm đến việc giảm phát thải tại các cơ sở phát thải nhiều nhất của quốc gia này như cơ sở khai thác mỏ, sản xuất dầu khí, sản xuất công nghiệp, vận tải và xử lý chất thải.
Với số lượng hơn 200 doanh nghiệp được yêu cầu giảm lượng khí thải phù hợp với các mục tiêu giảm phát thải của Australia. Các cơ sở này phải tuân thủ lộ trình giảm phát thải phù hợp với mục tiêu quốc gia vào các mốc 2030, 2035, hướng đến mục tiêu đạt mức phát phải ròng bằng 0 trong năm 2050.
Theo ông Simpson, các cơ sở này đã được cung cấp mức phát thải cơ bản giảm dần theo thời gian và họ có thể giảm phát thải trực tiếp hoặc mua tín chỉ phát thải để quy định này. Điều này sẽ tạo được sự linh hoạt và thúc đẩy việc giảm chi phí.

Một điểm then chốt là hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) chặt chẽ, được quản lý ở cấp quốc gia. Đây là nền tảng cốt lõi giúp thị trường các-bon vận hành hiệu quả.
Thực tiễn của Australia cho thấy bốn yếu tố quan trọng gồm: hệ thống quản trị mạnh mẽ và các cơ chế vững chắc; thứ 2 là hệ thống dữ liệu mạnh mẽ nhằm đảm bảo tính đáng tin cậy; thứ 3 là các động lực rõ ràng, đặc biệt là khi có các chính sách về giá cả giúp thúc đẩy các thay đổi về hành vi của các bên liên quan tham gia. Và cuối cùng là tính linh hoạt thông qua các khoản tín dụng cho phép các công ty quản lý chi phí.
"Những yếu tố này khi được kết hợp lại đã tạo ra môi trường hiệu quả cho thị trường các-bon được vận hành", Tham tán Đại sứ quán Australia nói.
Tuy nhiên, ông Simpson chỉ ra, việc vận hành cũng không thiếu những thách thức. Sự bất ổn về chính sách đã tạo ra sự lo lắng về tính không chắn và khiến cho các hoạt động đầu tư kém hấp dẫn với nhà đầu tư. Và những lo ngại về tính toàn vẹn của một số những chứng chỉ tín chỉ các-bon, cũng những nguy cơ dựa quá nhiều vào các biện pháp bù trừ thay vì thực sự rác thải. Những vấn đề này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của tình đáng tin cậy và sự cân bằng trong thiết kế hệ thống tín chỉ các-bon.
Ông Simpson nhận định, Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển sớm, điều này tạo ra cơ hội để học hỏi kinh nghiệm quốc tế bao gồm những kinh nghiệm từ Australia.
Theo đó, trọng tâm trước hết là xây dựng hệ thống MRV mạnh, thiết lập thể chế quản lý hiệu quả, triển khai thí điểm và từng bước mở rộng, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Điều 6 của Thỏa thuận Paris cũng mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính quốc tế, nếu được chuẩn bị tốt từ sớm.