Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Xây dựng và thương mại hoá dự án các-bon: Thách thức và cơ hội

Hằng Anh, Trà Nhung, Phương Dương, Hùng Ngọc, Hương Hiền 17/04/2026 14:05

Diễn đàn tập trung vào các giải pháp thực thi, kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn từ các chuyên gia quốc tế.

Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lược doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”, chiều 17/4 đã diễn ra buổi làm việc với chủ đề “Xây dựng và thương mại hóa dự án các-bon: Thách thức và cơ hội”. Buổi làm việc tập trung vào các giải pháp thực thi, kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn từ các chuyên gia quốc tế.

Trao đổi tại Diễn đàn, ông Win Sim Tan, Đại diện khu vực Verra cho biết, để phát triển một dự án tín chỉ các-bon có tính toàn vẹn cao, cần tập trung vào quy trình phát triển, từ việc lựa chọn phương pháp luận cho đến khi phát hành tín chỉ, và lưu ý về chất lượng và tính toàn vẹn.

ongwinsimtan4.jpg
Ông Win Sim Tan, Đại diện khu vực Verra phát biểu tại Diễn đàn

Hiện Verra đang xây dựng các phương pháp luận và tiêu chuẩn cho các hoạt động giảm phát thải, thường là các hoạt động xanh, thân thiện với khí hậu như giảm phá rừng, trồng rừng… Đồng thời quản lý các chương trình chứng nhận để các hoạt động này có thể tiếp cận nguồn tài chính khí hậu. Bên cạnh đó Verra cũng làm việc với chính phủ và khu vực tư nhân nhằm thúc đẩy việc ứng dụng các chương trình này vào hành động khí hậu và phát triển bền vững.

Để phát triển một dự án theo tiêu chuẩn các-bon đã được xác minh, ông Win Sim Tan cho biết, quy trình này gồm 7 bước, chia thành hai giai đoạn chính là đăng ký dự án và phát hành tín chỉ.

Trong giai đoạn đầu, ông Win Sim Tan nói, bước đầu tiên là lựa chọn phương pháp luận phù hợp khi không phải hoạt động nào cũng có thể tạo ra tín chỉ các-bon. Do đó, dự án phải dựa trên các phương pháp luận đã được phê duyệt và công bố như Phương pháp luận VCS do Verra xây dựng, hoặc phương pháp luận CDM của Liên Hợp Quốc thuộc Cơ chế Phát triển Sạch theo Nghị định thư Kyoto.

Sau khi lựa chọn được phương pháp phù hợp, ông Win Sim Tan cho biết, các doanh nghiệp cần xem xét các quy trình triển khai, bắt đầu từ việc đăng ký.

banhatrang2.jpg

Ở bước này, doanh nghiệp chỉ cần nộp bản dự thảo tài liệu thiết kế dự án với các thông tin cơ bản. Ông Tan cho rằng: "Đây là bước quan trọng để thu hút nhà đầu tư. Một khi dự án được niêm yết trên hệ thống của Verra, các nhà đầu tư sẽ cảm thấy tự tin hơn khi rót vốn hỗ trợ dự án".

Tuy nhiên, việc được niêm yết không có nghĩa là dự án có thể phát hành tín chỉ ngay. Bước tiếp theo là hoàn thiện tài liệu và thuê đơn vị kiểm toán độc lập để thực hiện thẩm định nhằm xác định các tài liệu, dữ liệu hoặc thông tin đã nộp có hợp pháp hay không.

Về mặt thương mại, các doanh nghiệp thuê có thể thuê các đơn vị kiểm toán trong nước để tối ưu chi phí thấp hơn. Để hỗ trợ việc này, ông Tan nói, Verra đang triển khai Chương trình Giám sát Hiệu suất VBB để doanh nghiệp có thể cân đối giữa chi phí và chất lượng khi chọn đơn vị kiểm toán.

ongwinsimtan5.jpg
Diễn đàn thu hút nhiều chuyên gia, doanh nghiệp tham gia

Sau khi vượt qua thẩm định, dự án sẽ được đăng ký chính thức. Ông Win Sim Tan cho biết, đây là cột mốc rất quan trọng khi dự án được công nhận và có thể bắt đầu triển khai hoạt động, đồng thời đủ điều kiện để phát hành tín chỉ các-bon.

Trong quá trình triển khai, ông Tan cho rằng, dự án tiến hành triển khai các hoạt động và bắt đầu quy trình giám sát. Hiện hầu hết các tài liệu đều có mẫu sẵn, cũng như định dạng và bảng biểu cụ thể để dự án báo cáo tiến độ và thành quả.

Sau khi các hoạt động đã được thực hiện, các doanh nghiệp cần mời kiểm toán viên một lần nữa để tiến hành bước thẩm tra tại thực địa để xác minh dữ liệu. Được biết, đây là quy trình lặp lại mỗi khi dự án muốn phát hành tín chỉ các-bon.

Tuy nhiên, ông Win Sim Tan nói thêm rằng, thông qua hệ thống Giám sát, Báo cáo và Thẩm tra kỹ thuật số, dữ liệu có thể được kết nối trực tiếp với hệ thống, giúp giảm phụ thuộc vào kiểm toán tại chỗ. Các dự án có thể yêu cầu phát hành tín chỉ bất cứ khi nào họ muốn, thay vì phải đợi 1-2 năm triển khai rồi mới thẩm tra.

Cuối cùng, sau khi báo cáo xác minh được nộp và kiểm tra, tín chỉ các-bon sẽ được phát hành và hiển thị công khai trên hệ thống đăng ký. Tất cả thông tin về số lượng tín chỉ, người mua và mục đích sử dụng đều minh bạch.

chieutoancanh (1)

Khi tính đến chất lượng và tính toàn vẹn của tín chỉ các-bon, ông Tan nhận định, trong thực tế, có nhiều “la bàn” để đánh giá chất lượng.

Thứ nhất là các nguyên tắc cốt lõi về các-bon (CCP) do Hội đồng Liêm chính thị trường carbon (ICVCM) ban hành.

Thứ hai là tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế ICAO đối với tín chỉ sử dụng trong ngành hàng không.

thứ ba là các chứng nhận bổ sung như CCB (Khí hậu, Cộng đồng và Đa dạng sinh học) hoặc SD VISta (Tiêu chuẩn Tác động Phát triển bền vững) nếu các dự án có lợi ích cho cộng đồng.

Ông Win Sim Tan cho biết, hiện nay đã có danh sách các phương pháp luận được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng cao để các doanh nghiệp sử dụng có thể yên tâm về tính toàn vẹn.

Ông Tan cũng nhấn mạnh, có hai điểm mấu chốt cần cân nhắc khi phát triển dự án, bao gồm thực hiện báo cáo tiền khả thi và xác định thị trường mục tiêu ngay từ đầu để dùng đúng phương pháp luận cho phép để tránh rơi vào tình trạng “tài sản mắc kẹt”, tức là có tín chỉ nhưng không bán được.

Phát biểu tại diễn đàn, bà Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận bền vững, Control Union Việt Nam khẳng định, một công ty, tổ chức không thể tuyên bố đạt Net Zero cho đến khi mục tiêu dài hạn cho tất cả các phạm vi đều đạt được và công ty đã đạt được trạng thái trung hòa các-bon.

banhatrang1.jpg
bà Bùi Thị Nha Trang, Quản lý bộ phận Chứng nhận bền vững, Control Union Việt Nam

Theo đó, nhiều quốc gia đã đặt mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Để làm được điều này phải kiểm kê và đưa ra lộ trình giảm phát thải theo nguồn lực của mỗi tổ chức để đạt trung hoà các-bon. Ở bước trung hoà này doanh nghiệp, tổ chức có thể mua nhiều loại tín chỉ các-bon. Để kiểm kê dấu chân carbon của doanh nghiệp (CCF), bà Bùi Thị Nha Trang chia sẻ các bước gồm:

Một là, xác định mục tiêu cho CCF.

Hai là, xác định ranh giới, gồm định hình ranh giới của hệ thống, ranh giới hoạt động (phạm vi, khí thải) và năm cơ sở và năm báo cáo.

Ba là, thu thập số liệu. Bao gồm nhận dạng các nguồn phát thải, nhận dạng các nguồn dữ liệu, thu thập số liệu.

Bốn là, tính toán, chuẩn bị kiểm toán khí thải, phương pháp tính toán và hệ số phát thải, tính GHG. Tuy nhiên, hệ số phát thải hiện còn chưa rõ, một số ngành chưa có nên đây cũng là khó khăn với doanh nghiệp.

Năm là, xử lý kết quả tuỳ theo mục đích. Theo đó trình bày về dấu chân carbon, trình bày về các nguồn năng lượng và CO2. Các bước tiếp theo sẽ xác định mục tiêu giảm GHG, kiểm tra tiến độ và chất lượng, báo cáo bên ngoài, truyền thông.

banhatrang2.jpg

Chia sẻ về 4 phạm vi vòng đời của sản phẩm, bà Nha Trang cho biết tuỳ với tính chất các sản phẩm của doanh nghiệp để xác định.

Bên cạnh đó, đại diện Control Union Việt Nam cũng giới thiệu về các chương trình tín chỉ carbon tự nguyện gồm: Verified Carbon Standard, Plan Vivo, Gold Standard. Với các doanh nghiệp có nguồn lực làm các-bon, bà Trang cho biết cần lựa chọn đúng loại tín chỉ các-bon phù hợp cho dự án mà doanh nghiệp xây dựng. Ngoài ra, xem xét giá bán của tín chỉ các-bon đó.

Phát biểu tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”, ông Saurabh Joshi - Trưởng phát triển nguồn cung & đối tác chiến lược của Climate Impact X, đã chia sẻ về xu hướng thương mại hóa tín chỉ các-bon, bao gồm kỳ vọng thị trường, cách định giá và tiêu chí thẩm định từ phía bên mua.

ongsaurabhjoshi2.jpg
Ông Saurabh Joshi - Trưởng phát triển nguồn cung & đối tác chiến lược của Climate Impact X phát biểu tại Diễn đàn.

Theo ông, một trong những thay đổi rõ nét nhất của thị trường hiện nay là người mua ngày càng trở nên kén chọn và hiểu biết hơn trong việc lựa chọn tín chỉ các-bon. “Nếu trước đây nhu cầu chủ yếu tập trung vào số lượng, thì hiện nay các tiêu chí về chất lượng, tính minh bạch và mức độ phù hợp với mục tiêu sử dụng đang được đặt lên hàng đầu”, ông Saurabh Joshi cho biết.

Xét về tổng thể, thị trường các-bon toàn cầu duy trì mức tương đối ổn định kể từ năm 2021, với quy mô giao dịch khoảng hai trăm triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, sự ổn định này không đồng nghĩa với việc thị trường đứng yên, mà ngược lại vẫn có nhiều hoạt động diễn ra, đặc biệt là sự thay đổi trong hành vi của người mua và cấu trúc giao dịch.

Một xu hướng đáng chú ý là hoạt động mua bán trên thị trường giao ngay vẫn tiếp diễn, nhưng trọng tâm đang dần chuyển sang các hợp đồng kỳ hạn. Trong năm 2025, thị trường ghi nhận sự gia tăng đột biến của các giao dịch dạng này, với sự tham gia tích cực của nhiều tập đoàn công nghệ lớn, trong đó có Microsoft. Dù doanh nghiệp này đã giảm dần quy mô mua trong thời gian gần đây, các hợp đồng kỳ hạn vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thị trường.

Bên cạnh đó, ông Joshi cũng chỉ ra sự khác biệt giữa thị trường tuân thủ và thị trường tự nguyện. Ở thị trường tuân thủ, các doanh nghiệp buộc phải tham gia theo quy định của cơ quan quản lý nhằm hạch toán và bù trừ phát thải. Trong khi đó, ở thị trường tự nguyện, doanh nghiệp có quyền lựa chọn tham gia hay không, chủ yếu nhằm thể hiện trách nhiệm xã hội và đáp ứng kỳ vọng từ cổ đông cũng như nội bộ tổ chức.

Để đáp ứng các yêu cầu này, nhiều doanh nghiệp đã chủ động mua tín chỉ theo tiêu chuẩn quốc tế, qua đó không chỉ phục vụ mục tiêu tự nguyện mà còn có thể sẵn sàng cho các yêu cầu tuân thủ trong tương lai. Việc tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế vì vậy trở thành yếu tố ngày càng quan trọng, khi người mua hiện nay đặc biệt quan tâm đến khả năng tín chỉ có thể được chấp nhận trong các cơ chế tuân thủ.

Theo ông Joshi, trong quá trình ra quyết định, người mua thường đặt ra một loạt câu hỏi. Trước tiên là tính hợp lệ: liệu tín chỉ đó có đủ điều kiện để sử dụng trong các chương trình tuân thủ hay không. Đây là tiêu chí được xem xét đầu tiên, trước cả các yếu tố kỹ thuật. Sau đó mới đến các tiêu chí như tính toàn vẹn môi trường, nguồn gốc tín chỉ có đến từ các cơ sở đăng ký được phê duyệt hay không, và phương pháp luận có được quốc tế công nhận rộng rãi hay không.

Một yếu tố quan trọng khác là khả năng xác minh và bảo đảm uy tín. Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là ở thị trường tự nguyện, chính bên mua sẽ tự thẩm định và xác nhận các tiêu chí môi trường, bao gồm việc đo lường, báo cáo và kiểm chứng. Điều này khiến các tiêu chuẩn về minh bạch và độ tin cậy của tín chỉ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

ongsaurabhjoshi.jpg
Ông Saurabh Joshi chia sẻ về xu hướng thị trường tín chỉ các-bon, nhấn mạnh vai trò của chất lượng, tiêu chuẩn và sự thay đổi trong hành vi người mua.

Ngoài ra, tính bổ sung của dự án cũng là yếu tố then chốt trong quá trình thẩm định. Bên cạnh đó là các tiêu chí liên quan đến bên thứ ba, như việc dự án có được phê duyệt, chứng nhận hoặc xếp hạng bởi các tổ chức độc lập hay không. Những yếu tố này ngày càng được người mua cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định.

Về khía cạnh giá, ông Joshi cho biết: “Thị trường đang chứng kiến xu hướng “giá nâng cao”, tức các tín chỉ có thể đạt mức giá cao hơn nếu mang lại giá trị bổ sung ngoài giảm phát thải, chẳng hạn như tác động tích cực đến môi trường hoặc cộng đồng”. Các yếu tố như đóng góp cho phát triển bền vững, hay các chứng nhận bổ sung theo tiêu chuẩn quốc tế, đều có thể ảnh hưởng đến giá bán và mức độ sẵn sàng chi trả của người mua. Đồng thời, giá tín chỉ cũng có sự khác biệt đáng kể giữa thị trường tuân thủ và thị trường tự nguyện.

Từ những xu hướng trên, ông Joshi nhấn mạnh một số kiến nghị đối với các bên tham gia thị trường. Đối với các dự án, việc thiết kế cần đảm bảo tính toàn vẹn theo tiêu chuẩn tuân thủ, ưu tiên các phương pháp được phê duyệt và xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo, kiểm chứng (MRV) chặt chẽ. Đồng thời, cần sớm làm việc với cơ quan quản lý để đáp ứng các yêu cầu liên quan đến chuyển nhượng quốc tế, đăng ký và cấp phép theo từng thị trường.

Đối với bên mua, việc tích hợp các tiêu chí đánh giá chất lượng và tính liêm chính vào quy trình mua sắm ngay từ đầu là rất quan trọng. Thị trường nguồn cung chất lượng cao đang hạn chế, trong khi giá có xu hướng tăng, do đó việc tiếp cận sớm sẽ mang lại lợi thế đáng kể. Các tín chỉ có độ tin cậy cao ngày càng trở thành yếu tố tạo khác biệt trong hoạt động kinh doanh.

diengiahoi.jpg
Đại biểu nêu câu hỏi về xu hướng phát triển và những yêu cầu mới của thị trường tín chỉ các-bon.

Ngoài ra, các khuôn khổ pháp lý rõ ràng được xem là chìa khóa để mở khóa dòng vốn đầu tư và nâng cao khả năng cạnh tranh của nguồn cung trên thị trường quốc tế. Những quốc gia sớm xác định tiêu chí và phê duyệt nguồn cung chất lượng cao sẽ có cơ hội chiếm lĩnh thị phần lớn hơn.

Theo ông Joshi, thị trường các-bon đang bước vào giai đoạn phát triển sâu hơn, nơi chất lượng, tính minh bạch và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn trở thành yếu tố quyết định. Điều này đòi hỏi các bên tham gia phải chuẩn bị kỹ lưỡng, từ thiết kế dự án, xây dựng hệ thống dữ liệu đến chiến lược tiếp cận thị trường, nhằm tận dụng hiệu quả cơ hội từ một thị trường đang ngày càng khắt khe nhưng cũng giàu tiềm năng.

Tại Diễn đàn, nội dung kết nối quốc tế đã thu hút sự quan tâm của nhiều đại biểu khi mang đến góc nhìn thực tiễn từ Australia, đây là một trong những quốc gia có kinh nghiệm vận hành thị trường các-bon tương đối hoàn chỉnh.

chieutoancanh3(1).jpg
Tại Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”, nội dung kết nối quốc tế đã thu hút sự quan tâm của nhiều đại biểu.

Thông qua hình thức trực tuyến, ông Ryan Cook, Quyền Trưởng nhóm về Tài chính Bền vững, Climateworks Centre đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm trong phát triển thị trường và tối ưu hóa hiệu quả tài chính cho các dự án xanh.

Chia sẻ với Diễn đàn, ông Ryan Cook cho biết, Australia đang vận hành song song cả thị trường các-bon tuân thủ và cơ chế tín chỉ, trong đó nổi bật là “cơ chế phòng vệ”, đó là một hệ thống yêu cầu các cơ sở phát thải lớn phải kiểm soát lượng phát thải của mình theo ngưỡng quy định. Theo đó, các doanh nghiệp phát thải thấp hơn ngưỡng được cấp tín chỉ để giao dịch, trong khi các đơn vị phát thải vượt ngưỡng buộc phải mua tín chỉ bù đắp. Cơ chế này hiện áp dụng cho hơn 200 cơ sở có mức phát thải trên 100.000 tấn CO₂ mỗi năm, chiếm khoảng 30% tổng phát thải quốc gia.

Đáng chú ý, Australia duy trì cơ chế rà soát định kỳ nhằm đảm bảo tính toàn vẹn và hiệu quả của thị trường. Năm 2023, Chính phủ nước này đã tiến hành đánh giá toàn diện chương trình, qua đó khẳng định nền tảng vận hành cơ bản là phù hợp, đồng thời đưa ra các khuyến nghị cải cách để tăng cường niềm tin thị trường, siết chặt tiêu chuẩn và điều tiết nguồn cung tín chỉ. Những dự án không đáp ứng yêu cầu sẽ không được cấp tín chỉ, qua đó nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường.

Bên cạnh đó, các cải cách chính sách gần đây cũng góp phần tạo thêm cầu thị trường, đặc biệt đối với tín chỉ các-bon ACCU (Australian Carbon Credit Units). Chính phủ Australia áp dụng cơ chế kiểm soát chi phí, điều chỉnh giá tín chỉ theo lạm phát cộng biên độ, giúp hạn chế biến động giá và tăng tính ổn định cho thị trường. Theo ông Ryan Cook, đến năm 2026, giá một tín chỉ ACCU theo cơ chế này dự kiến ở mức khoảng 82,68 AUD.

ongryancook(1).jpg
Thông qua hình thức trực tuyến, ông Ryan Cook, Quyền Trưởng nhóm về Tài chính Bền vững, Climateworks Centre đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm trong phát triển thị trường và tối ưu hóa hiệu quả tài chính cho các dự án xanh.

Một điểm khác biệt của Australia là thúc đẩy mạnh các dự án giảm phát thải dựa vào thiên nhiên, như quản lý cháy rừng, phục hồi thảm thực vật hoặc các hoạt động nông nghiệp bền vững. Nhiều dự án trong số này do cộng đồng bản địa triển khai, không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và bảo tồn tri thức truyền thống, qua đó tạo ra “lợi ích kép” về môi trường và xã hội.

Từ góc độ thị trường, ông Ryan Cook nhấn mạnh xu hướng ngày càng rõ nét là các doanh nghiệp mua tín chỉ trở nên “khắt khe” hơn, yêu cầu cao hơn về chất lượng, tính minh bạch và giá trị cộng hưởng của các dự án các-bon. Các yếu tố như tính bổ sung, tính độc lập với hỗ trợ ngân sách nhà nước hay khả năng tạo lợi ích cho cộng đồng đều trở thành tiêu chí quan trọng trong định giá và quyết định đầu tư.

Đáng chú ý, mô hình tài chính hỗn hợp cũng đang được thúc đẩy mạnh tại Australia. Điển hình là nền tảng nông nghiệp, các-bon quy mô 250 triệu AUD kết hợp nguồn vốn từ Chính phủ, quỹ hưu trí quốc tế và khu vực tư nhân, đồng thời gắn với các hợp đồng bao tiêu dài hạn từ doanh nghiệp lớn. Mô hình này không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn thu (kết hợp sản xuất nông nghiệp và tín chỉ các-bon) mà còn tăng tính ổn định và hấp dẫn đối với nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, ông Ryan Cook cũng lưu ý một số tiêu chí cốt lõi mà doanh nghiệp cần cân nhắc khi tham gia thị trường các-bon.

Trước hết là nhu cầu tuân thủ, đây là yếu tố mang tính dẫn dắt thị trường khi ngày càng được Chính phủ các quốc gia hỗ trợ và siết chặt thông qua việc hạ thấp dần ngưỡng phát thải cơ sở. Việc tham gia thị trường cần gắn với mục tiêu giảm phát thải quốc gia, đồng thời góp phần nâng cao tính thanh khoản và thúc đẩy sự phát triển của thị trường thứ cấp.

Ở góc độ chất lượng tín chỉ, các nguyên tắc về tính toàn vẹn các-bon ngày càng trở nên quan trọng. Theo đó, các dự án cần đảm bảo độ tin cậy, tính minh bạch và tuân thủ các quy trình quản trị chặt chẽ theo các chuẩn mực quốc tế như ICVCM hay VCMI. Đồng thời, năng lực triển khai và quản lý dự án cũng là yếu tố then chốt, quyết định khả năng tạo ra tín chỉ có giá trị cao trên thị trường.

Theo ông Ryan Cook, các dự án các-bon không chỉ dừng lại ở mục tiêu giảm phát thải mà còn cần tạo ra các lợi ích cộng hưởng, như bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển sinh kế cho cộng đồng địa phương hay đóng góp cho các mục tiêu xã hội. Đây cũng là yếu tố giúp dự án thu hút nhóm khách hàng chất lượng cao và nâng cao giá trị tín chỉ.

ongryancook1(1).jpg
Ông Ryan Cook khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực quản trị các-bon.

Từ kinh nghiệm của Australia, ông Ryan Cook khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực quản trị các-bon, xây dựng chiến lược tham gia thị trường rõ ràng, đồng thời chú trọng phát triển các dự án có tính toàn vẹn cao, minh bạch và tạo ra lợi ích cộng hưởng. Trong bối cảnh thị trường các-bon toàn cầu vẫn đang ở giai đoạn phát triển ban đầu, đây cũng là cơ hội để Việt Nam học hỏi, hoàn thiện thể chế, nâng cao tiêu chuẩn và từng bước thu hút dòng vốn chất lượng cao vào các dự án giảm phát thải.

Phát biểu tại Diễn đàn, bà Ivy Yuwei Yin - Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy đã chia sẻ những rủi ro và cơ hội cho các dự án các-bon tại Việt Nam.

baivyyuweiyin3.jpg
Bà Ivy Yuwei Yin – Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy

Bà Ivy Yuwei Yin cho biết, Climate Impact X (CIX) là một nền tảng giao dịch tín chỉ carbon toàn cầu, được thiết kế để kết nối người mua và người bán thông qua các thị trường được tiêu chuẩn hóa, minh bạch và đã được xác minh. CIX cung cấp các giải pháp giao dịch tín chỉ chất lượng cao, giúp thúc đẩy hành động khí hậu và thị trường các-bon tự nguyện. S&P Global Energy của chúng tôi cũng đã đưa ra những dự báo ngắn, dài hạn cho thị trường tín chỉ các-bon trong đó có Việt Nam.

Bà Ivy Yuwei Yin đã phân tích cơ hội thị trường dành cho Việt Nam và cho rằng, theo dự báo của chúng tôi, so với các nước ở trong ASEAN thì Việt Nam được đánh giá rất cao chỉ sau Singapore vì Việt Nam đã có những chính sách cụ thể về thị trường các-bon. Ví dụ như ở Thái Lan họ mới chỉ đang đưa ra hệ thống bán phác thảo. Theo bà dự báo Việt Nam tốt hơn thị trường khác là do chịu áp lực từ Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM), các doanh nghiệp Việt đã có bước chủ động để đáp ứng yêu cầu.

“Việt Nam đóng vai trò tích cực trong thị trường các-bon toàn cầu. Việt Nam có thị trường thiết bị gia dụng, năng lượng tái tạo – đây là những hạng mục dự án có tiềm năng. So với các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc, hoặc bên mua trên thị trường tự nguyện khác thì Việt Nam phát triển rất tốt” – bà Ivy Yuwei Yin nhấn mạnh.

baivyyuweiyin.jpg
Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon”

Về chính sách, trên thị trường quốc tế, Điều 6 của Hiệp định Paris (2015) cho phép các quốc gia hợp tác tự nguyện để đạt mục tiêu giảm phát thải (NDC), tạo cơ sở pháp lý cho thị trường các-bon quốc tế. Ví dụ như Australia họ tập trung vào thị trường nội địa và chưa có tín hiệu rõ ràng từ việc nhập hay mua từ các quốc gia khác thì Việt Nam lại khác, đã tích cực đã mở ra cơ hội cho việc xuất khẩu tín chỉ các-bon bổ sung.

Đối với Chương trình CORSIA (Chương trình Bù trừ và Giảm thiểu Carbon cho Hàng không Quốc tế) - là cơ chế thị trường toàn cầu đầu tiên do ICAO thiết lập nhằm cắt giảm khí thải từ các chuyến bay quốc tế, hướng tới mục tiêu tăng trưởng trung lập carbon từ năm 2020 - thì đây là chương trình tự nguyện nhưng từ năm 2027 sẽ là bắt buộc. Có nghĩa là các hãng hàng không phải duy trì mức phát thải hàng không toàn cầu giảm chỉ còn 85% so với phát thải so với năm 2019. Mặc dù Việt Nam chưa tham gia nhưng Nhật Bản và Hàn Quốc đã tham gia và Việt Nam cũng sớm không nằm ngoài “cuộc chơi” theo lộ trình này.

Về rủi ro và thách thức, theo Nghị định 112/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/4/2026, Việt Nam cho phép chuyển giao quốc tế tín chỉ các-bon với tỷ lệ tối đa 90% tổng số tín chỉ dự án tạo ra. 10% còn lại là phần phải giữ lại để phục vụ điều chỉnh tương ứng, đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải quốc gia (NDC). Bà cho rằng Việt Nam cần cân bằng bình quân và tối ưu hoá doanh thu.

Các quốc gia mua tín chỉ các-bon theo Điều 6 của Hiệp định Paris và mỗi quốc gia tham gia đều có tiêu chí khác nhau. Như vậy tính khác biệt không chỉ ở bên mua mà còn cả ở bên bán. Việt Nam đang có kế hoạch xây dựng chương trình tín chỉ các-bon nội địa ngoài hệ thống quốc tế đã đưa ra.

“Khi thị trường CORSIA có tính bắt buộc vào năm 2027 thì nguồn cung trên thị trường sẽ tốt hơn. Với những dự án tiềm năng trong CORSIA thì họ sẽ yêu cầu mua bảo hiểm vì khi xảy ra rủi ro thì các dự án sẽ cảm thấy bất an, dĩ nhiên giá không hề rẻ. Để bảo đảm khả thi dự án thì còn nhiều cân nhắc”- bà Ivy Yuwei Yin thông tin.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG PHÁT TRIỂN DỰ ÁN CÁC-BON .

Điều phối phiên thảo luận: Ông Tạ Đức Bình, Đại diện Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường.

Khách mời:

  • Ông Win Sim Tan - Đại diện khu vực của Verra
  • Bà Bùi Thị Nha Trang - Sustainability Team Manager, Control Union Việt Nam
  • Ông Saurabh Joshi - Trưởng bộ phận phát triển nguồn cung & đối tác chiến lược, Climate Impact X
  • Ông Ryan Cook - Quyền Trưởng nhóm về Tài chính Bền vững, Climateworks Centre
  • Bà Ivy Yuwei Yin - Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy
chutoachieu1.jpg
Các vị diễn giả tham gia phiên thảo luận với chủ đề "Cơ hội và thách thức trong phát triển dự án các-bon"

Mở đầu phiên thảo luận, ông Tạ Đức Bình, Đại diện Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường chia sẻ: Qua các phát biểu từ sáng đến nay, bức tranh về khung chính sách, quy định cũng như cơ chế vận hành thị trường các-bon tại Việt Nam hiện đã dần trở nên rõ nét, qua đó câu chuyện doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ các-bon trở nên cụ thể và khả thi hơn.

chutoachieuongducbinh.jpg
Ông Tạ Đức Bình, Đại diện Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường

Chính vì vậy, mục tiêu giảm phát thải và vai trò của thị trường các-bon tự nguyện đang ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào các dự án giảm phát thải. Trong bối cảnh này, câu hỏi lớn mà nhiều doanh nghiệp đang đặt ra là làm thế nào để triển khai tín chỉ các-bon trên thực tế, cần bắt đầu từ đâu và cần làm gì?

Với ông Win Sim Tan - Đại diện khu vực của Verra, ông Bình đặt câu hỏi đâu là yếu tố quan trọng nhất để 1 dự án các được coi là có tiêu chuẩn cao theo tiêu chuẩn của Verra? Và đâu là yếu tố mà các dự án tại Đông Nam Á có thể dễ bỏ qua?

Trả lời câu hỏi của ông Bình, ông Win Sim Tan, Đại diện khu vực của Verra nhận định, về bản chất, đối với các dự án dựa vào tự nhiên, yếu tố then chốt mà các dự án phải đặc biệt lưu tâm trước khi triển khai hoạt động là sự tham gia của các bên liên quan tại địa phương và cộng đồng.

“Chúng tôi đã chứng kiến nhiều trường hợp dự án vẫn tiến hành triển khai mà thiếu sự tham vấn cần thiết với các bên liên quan trọng yếu tại khu vực dự án”, ông Tan cho biết.

chutoaongwinsimtan2.jpg
Ông Win Sim Tan, Đại diện khu vực của Verra

Khi điều đó xảy ra, các nhà đầu tư sẽ mất niềm tin, nhất là khi nảy sinh tranh chấp về quyền sở hữu đất đai, hoặc thậm chí là các khiếu nại, cáo buộc về việc chia sẻ lợi ích không công bằng dẫn đến việc nhiều dự án cuối cùng đã không thể huy động được nguồn tài chính khí hậu cần thiết. Đây là một tổn thất không dễ gì khắc phục được. Tình trạng này khá phổ biến trong các dự án lâm nghiệp hoặc các dự án sử dụng đất nói chung.

Ngược lại, đối với các dự án dựa trên công nghệ, vấn đề lại nằm ở khía cạnh khác. Các dự án này thường quan trọng về quy mô. Ông Tan chỉ ra, nếu dự án có quy mô rất nhỏ hoặc hạn chế, hoàn toàn có thể cân nhắc việc kết hợp nhiều hoạt động từ các lĩnh vực khác nhau.

Chẳng hạn, không nhất thiết chỉ tập trung vào pin năng lượng mặt trời mà còn có thể kết hợp thêm cả tua bin gió và vẫn đăng ký dưới hình thức một dự án duy nhất. Chúng tôi gọi đó là áp dụng "đa hoạt động".

Mặt khác, các doanh nghiệp cũng có thể kết hợp các hoạt động từ nhiều địa điểm khác nhau khi các hoạt động không nhất thiết phải nằm trên cùng một khu vực địa lý. Cách này sẽ giúp dự án đạt được quy mô để đảm bảo tính khả thi.

chutoaongwinsimtan3.jpg

Tóm lại, dù là dự án dựa vào tự nhiên hay dựa trên công nghệ, luôn có những cân nhắc khác nhau mà các chủ dự án cần phải tính đến.
Đánh giá về tiềm năng của Việt Nam, theo Đại diện khu vực của Verra, nếu nhìn vào dữ liệu từ chương trình Tiêu chuẩn Các-bon được xác minh (VCS), Việt Nam luôn là quốc gia có số lượng dự án VCS lớn nhất tại Đông Nam Á; đứng thứ hai là Thái Lan và thứ ba là Indonesia.

Điều này cho thấy Việt Nam đang tiến khá xa trong khu vực. Nếu so sánh với Malaysia (hiện có hơn 20 dự án) hay Lào (khoảng 10 dự án), thì Việt Nam hiện nay đã có khoảng 50 dự án. Vì vậy, về mặt kỹ thuật, Việt Nam đã sẵn có những nhân tài nội địa hiểu rõ cách thức phát triển một dự án các-bon.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để mở rộng quy mô? Theo ông Tan, có thể rút ra bài học từ ngành nông nghiệp. Trong lĩnh vực này, về cơ bản các doanh nghiệp đang làm việc với các hộ nông dân nhỏ lẻ. Rất nhiều nông dân canh tác trên những mảnh vườn khác nhau trong cùng một khu vực, nhưng không có kiến thức kỹ thuật để tự phát triển và đăng ký dự án.

Vậy doanh nghiệp có thể hợp tác với các đối tác có chuyên môn để hỗ trợ các nông dân trong việc phát triển và đăng ký dự án các-bon, trong khi hoạt động thực tế vẫn do nông dân thực hiện.

Doanh nghiệp có thể hợp tác với các đối tác kỹ thuật để đăng ký dự án, sau đó họ vẫn trực tiếp triển khai hoạt động và thu về tín chỉ các-bon.

Theo ông Tan, điều này rất quan trọng vì giúp giảm sự phụ thuộc vào các đơn vị tư vấn nước ngoài, vốn là yếu tố tăng chi phí. Vì thế, việc tận dụng nguồn lực nội địa là một hướng đi đáng để cân nhắc.

Về các lĩnh vực cụ thể, ông Tan chỉ ra, nông nghiệp sẽ là lĩnh vực trọng tâm và dễ tiếp cận nhất. Tuy nhiên, một lĩnh vực khác hiện nay chưa được chú ý đúng mức, đó là xe điện (EV), không chỉ là phương tiện mà còn là cơ sở hạ tầng.

Ông Tạ Đức Bình cũng đặt vấn đề về xu hướng thị trường các-bon, cụ thể là các loại tín chỉ mà người mua quốc tế đang tìm kiếm, lĩnh vực ưu tiên và những thay đổi trong thời gian gần đây.

Trả lời nội dung này, ông Saurabh Joshi, Trưởng Bộ phận Phát triển nguồn cung & Đối tác Chiến lược của Climate Impact X cho biết: nhu cầu đối với tín chỉ các-bon phụ thuộc rất lớn vào mục đích sử dụng của người mua cũng như loại thị trường mà họ tham gia.

chutoaongsaurabhjoshi2.jpg
Ông Saurabh Joshi, Trưởng Bộ phận Phát triển nguồn cung & Đối tác Chiến lược của Climate Impact X

Đối với thị trường tuân thủ, các doanh nghiệp thường tìm kiếm tín chỉ thuộc các chương trình bắt buộc, với ưu tiên hàng đầu là đáp ứng yêu cầu pháp lý với chi phí thấp nhất. Áp lực tối ưu chi phí khiến phần lớn người mua trong phân khúc này hướng đến các loại tín chỉ có giá cạnh tranh, miễn là đáp ứng được quy định.

Trong khi đó, thị trường tự nguyện có đặc điểm linh hoạt hơn, khi quyết định mua tín chỉ phụ thuộc vào mục tiêu riêng của từng doanh nghiệp. Một số tập đoàn công nghệ lớn như Microsoft hay Google có xu hướng ưu tiên các tín chỉ loại bỏ các-bon (carbon removal), chẳng hạn như công nghệ than sinh học hoặc thu giữ trực tiếp các-bon từ không khí.

chutoaongsaurabhjoshi.jpg

Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp trong thị trường tự nguyện cũng quan tâm đến các dự án giảm phát thải gắn với lợi ích cộng đồng, chẳng hạn như giảm rác thải từ thiết bị gia dụng hoặc các sáng kiến phát triển bền vững. Tuy nhiên, điểm chung là người mua ngày càng chú trọng đến các tiêu chí như tính minh bạch, hiệu quả, phương pháp luận được quốc tế công nhận và mức xếp hạng tín chỉ từ các tổ chức uy tín.

Về quy mô thị trường, nhu cầu tín chỉ các-bon trong thời gian qua tương đối ổn định, với khối lượng giao dịch khoảng 200 triệu tấn mỗi năm. Mức này được xem là một tham chiếu quan trọng để đánh giá nhu cầu của thị trường trong từng giai đoạn, dù thực tế vẫn có những biến động nhất định theo từng thời điểm.

Chia sẻ kinh nghiệm về những lưu ý với các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dự án các-bon, bà Bùi Thị Nha Trang - Sustainability Team Manager, Control Union Việt Nam cho biết, là đơn vị thực hiện xác minh dự án, chúng tôi thấy các dự án tại Việt Nam còn đang gặp vướng mắc ở một số vấn đề.

banhatrang1(1).jpg
Bà Bùi Thị Nha Trang - Sustainability Team Manager, Control Union Việt Nam

Đơn cử như việc lựa chọn tiêu chuẩn các-bon nào là yếu tố quyết định. Theo tôi, doanh nghiệp phải đánh giá được năng lực để lựa chọn tiêu chuẩn phù hợp. Ví dụ như các tiêu chuẩn VCS, GS… đã được công nhận quốc tế, doanh nghiệp có thể nghiên cứu quy trình để triển khai. Chúng tôi sẽ dựa vào các dữ liệu được ghi nhận trên “sổ tay” điện tử và thực tế để xác nhận kết quả công nhận từ những tiêu chuẩn quốc tế đó.

banhatrang2(1).jpg

Hiện Việt Nam cũng có một số tín chỉ các-bon được xem là tiềm năng như tín chỉ các-bon trong nông nghiệp, tín chỉ trong lĩnh vực xe điện… là loại tín chỉ được đánh giá có hiệu quả. Cùng với đó, doanh nghiệp cần có nhận thức phương pháp, đồng thời đối chiếu tiêu chuẩn để mang lại dự án có hiệu quả cao nhất. Đặc biệt, trong quá trình xây dựng dự án, cần hướng tới sản phẩm tín chỉ đã có người mua hay chưa, được định giá như thế nào cũng là vấn đề doanh nghiệp cần lưu ý.

diengiahoi4.jpg
Đại diện doanh nghiệp đặt câu hỏi

Đại diện doanh nghiệp đặt câu hỏi: Phương pháp luận trong chương trình CORSIA (Cơ chế bù đắp và giảm phát thải carbon đối với hàng không quốc tế) chia làm 2 loại chính khi xét về phương pháp giám sát, báo cáo và xác minh (MRV) lượng phát thải CO2 có đúng không? Đâu là rủi ro trọng yếu liên quan tới hệ thống mua bán phát thải (ETS)?

Trả lời câu hỏi này, bà Ivy Yuwei Yin – Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy cho biết: Về ETS, doanh nghiệp cần phân tích đâu là rủi ro trọng yếu. Một điểm cần lưu ý cho doanh nghiệp là chỉ được lựa chọn một tiêu chuẩn duy nhất cho một dự án, vì vậy doanh nghiệp cần cân nhắc “rất cẩn thận”.

chutoabaivyyuweiyin.jpg
Bà Ivy Yuwei Yin – Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy

Đơn cử, cơ chế SPARK (hoặc "Clean Dark Spread") áp dụng cho các nhà máy nhiệt điện than nhưng sau đó không thể bán trên thị trường quốc tế, vì thực tế chỉ có 2% trong số này là tìm được bên mua quốc tế do họ gắn liền với quan niệm rằng nhà máy nhiệt điện than thì không phải ứng cử viên tốt nhất trong việc thực hiện tín chỉ các-bon này.

Trả lời câu hỏi của đại biểu tại diễn đàn về việc “đơn vị phát triển dự án có thể kết hơp nhiều phương pháp luận cho 1 dự án các-bon ban đầu gửi về Verra và sau đó có thể chia thành nhiều dự án các-bon mới hay không? Hoặc có nguyên tắc chuyển nhượng dự án cho nhà đầu tư khác hay không?” ông Win Sim Tan, đại diện khu vực Verra cho biết, về mặt nguyên tắc là có thể tách nhỏ dự án tín chỉ các-bon nhưng quy trình hiện chưa chi tiết và có thể không hiệu quả.

“Tức là phải đăng ký lại dự án nhỏ hơn, không có lợi về mặt thời gian và chi phí. Thực tiễn không có lợi cho chủ dự án và chúng tôi cũng chưa gặp trường hợp này ở Verra. Tôi nghĩ là không nên”, ông Win Sim Tan nói. Còn về cơ chế chuyển giao, ông Win Sim Tan cho biết đơn vị chủ dự án ban đầu có thể gửi tài liệu tới Verra thông báo chuyển quyền sở hữu và chủ dự án mới sẽ gửi thông báo tương tự về Verra thông báo việc tiếp nhận dự án.

Đại diện đến từ Công ty Điện Nghi Sơn 2 đặt câu hỏi liên quan đến chi phí dự kiến đối với Việt Nam trong phần trình bày của S&P Global Energy. Trong khi hiện nay thị trường các-bon trong nước vẫn chưa chính thức vận hành, vậy các giả định này được xây dựng dựa trên cơ sở nào? Cụ thể, những ngành/lĩnh vực nào đã được đưa vào phân tích để xây dựng kịch bản này

chutoaongryancook2.jpg

Bà Ivy Yuwei Yin, Chuyên gia phân tích cấp cao, S&P Global Energy cho biết, dự báo dài hạn đến năm 2050 hoặc 2060 được xây dựng dựa trên các giả định ở cấp độ vĩ mô. S&P Global Energy xây dựng các kịch bản dự báo cho mọi lĩnh vực như điện lực, thép, xi măng; và đối với mỗi quốc gia, chúng tôi đều có dự báo về quỹ đạo phát thải cụ thể. Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng là chi phí giảm phát thải cận biên. Ví dụ, nếu một quốc gia muốn đạt được một mức công suất điện tái tạo nhất định (tính bằng Gigawatt), họ sẽ phải trả phí để chuyển đổi từ điện than hay điện khí sang năng lượng tái tạo. Đối với ngành thép, nếu muốn chuyển đổi sang công nghệ lò hồ quang điện (EAF), cũng sẽ có những chi phí giảm phát thải tương ứng.

Tuy nhiên, với các quốc gia như Việt Nam, nơi thị trường ETS dài hạn chưa được thiết lập thì việc dự báo được xây dựng dựa trên hai yếu tố chính.

Thứ nhất là chi phí giảm phát thải biên. Thứ hai là việc thiết lập một “trần giá” dựa trên dự báo GDP bình quân đầu người theo thời gian.
Điều này nhằm đảm bảo mức giá các-bon ở ngưỡng có thể chi trả được và không trở nên thiếu thực tế đối với những đơn vị tham gia thị trường ETS.

Một điểm cần lưu ý là các dự báo của S&P Global Energy được tính theo giá trị thực tế của đồng USD năm 2024, tức là đã loại trừ yếu tố lạm phát ra khỏi bức tranh tổng thể. Do đó, đối với các nền kinh tế đang phát triển, nếu xét theo giá danh nghĩa vào năm 2050 hoặc 2060, mức giá ETS thực tế có thể cao gấp hai đến ba lần so với giá trị “thực” trong dự báo do tác động của lạm phát. Đối với thị trường theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, hiện tại chúng tôi chưa có dự báo cụ thể theo từng quốc gia. Thay vào đó, chúng tôi chủ yếu theo dõi những gì đang diễn ra trên thực tế, bao gồm nguồn cung tín chỉ, các dự án hiện hữu cũng như các giao dịch đã được ký kết.

Hằng Anh, Trà Nhung, Phương Dương, Hùng Ngọc, Hương Hiền