Kinh tế

Kinh tế

Từ tái thiết đến kỷ nguyên vươn mình

Nguyễn Chuẩn 30/04/2026 05:00

Từ một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, Việt Nam đã từng bước chuyển mình thành điểm sáng tăng trưởng của khu vực chỉ sau hơn nửa thế kỷ.

Đáng chú ý, năm 2026 còn đánh dấu thời khắc lịch sử khi lần đầu tiên chúng ta vượt Thái Lan để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á tính theo sức mua tương đương (PPP). Hành trình ấy là câu chuyện về ý chí tự cường, về những quyết sách lịch sử và khát vọng vươn xa không ngừng nghỉ.

Từ “cởi trói” đến cất cánh

Bước ngoặt lớn nhất trong nửa thế kỷ qua chính là công cuộc Đổi mới khởi xướng từ Đại hội Đảng VI (tháng 12/1986). Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, người chứng kiến trọn vẹn hành trình này, từng chia sẻ: “Nếu không có công cuộc Đổi mới năm 1986 thì tôi không biết tương lai của đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ ra sao. Vào thời điểm đó, Việt Nam đang là một trong những nền kinh tế nghèo nhất thế giới”.

vn(1).jpg
Những chính sách “cởi trói” cho sản xuất, thừa nhận kinh tế nhiều thành phần và mở cửa hội nhập đã tạo ra cuộc lột xác ngoạn mục của Việt Nam.

Những chính sách “cởi trói” cho sản xuất, thừa nhận kinh tế nhiều thành phần và mở cửa hội nhập đã tạo ra cuộc lột xác ngoạn mục. Từ một quốc gia phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Năm 2025, xuất khẩu gạo vượt 8,06 triệu tấn, mang về trên 4,1 tỷ USD, chỉ đứng sau Ấn Độ. Bước sang quý I/2026, ngành lúa gạo tiếp tục xuất khẩu hơn 2,81 triệu tấn, thu về 1,32 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế trụ cột của nông sản Việt trên bản đồ lương thực toàn cầu. Từ mức vỏn vẹn 8 tỷ USD năm 1986, GDP theo giá hiện hành đã đạt 476,3 tỷ USD năm 2024 và ước tính chạm mốc 514 tỷ USD trong năm 2025, gấp gần 60 lần.

Bước sang quý I/2026, nền kinh tế tiếp tục cho thấy sức bật đáng kinh ngạc. Bất chấp những biến động khó lường từ xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại toàn cầu, GDP quý I/2026 ước tăng 7,83%, mức tăng trưởng quý I cao nhất trong gần một thập kỷ. Động lực tăng trưởng đến từ cả ba khu vực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là “đầu tàu” với mức tăng 9,73%.

Bên cạnh đó, những con số vĩ mô khác cũng vẽ nên bức tranh đầy sức sống. Tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam trong ba tháng đầu năm đạt 15,2 tỷ USD, tăng tới 42,9% so với cùng kỳ, còn vốn FDI thực hiện ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% và là mức cao nhất của quý I trong giai đoạn 2022–2026. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa quý I đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1%. TS Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, nhận định: “Nhu cầu tại các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, EU vẫn duy trì ổn định; xuất khẩu sang Trung Quốc phục hồi tích cực. Yếu tố giá hàng hóa cơ bản tăng cũng góp phần làm tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu”.

Ở tầm nhìn xa hơn, các định chế tài chính hàng đầu thế giới đều chung một nhận định về bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2026 với sắc màu khả quan. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo GDP Việt Nam tăng 7,2% trong năm 2026, với lạm phát kiểm soát ở mức 4%. Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) đưa ra con số tương tự và đánh giá nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh bất ổn toàn cầu. Ngân hàng UOB lạc quan hơn với dự báo 7,5%.

Và khát vọng vươn mình

Cột mốc đáng chú ý nhất trong năm 2026 chính là dự báo của IMF. Theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam sẽ đạt 2.025 tỷ USD, vượt qua Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỷ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỷ USD trong khu vực. Cục Thống kê thậm chí còn đưa ra con số cao hơn, ước tính GDP PPP của Việt Nam năm 2026 đạt khoảng 2.099 tỷ USD, cao hơn Thái Lan khoảng 135 tỷ USD. Xa hơn, đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam sẽ cao hơn Thái Lan trên 500 tỷ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, củng cố vững chắc vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.

ktvn(1).jpg
Từ một nền kinh tế kiệt quệ sau chiến tranh, Việt Nam đã từng bước chuyển mình thành điểm sáng tăng trưởng của khu vực chỉ sau hơn nửa thế kỷ.

Đây là thành quả của bốn thập kỷ kiên trì đổi mới và hội nhập. Dù vậy, các chuyên gia nhấn mạnh rằng mục tiêu tăng trưởng không chỉ là “nhanh” mà còn phải “bền”. Thực tế tăng trưởng năm 2025 chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô vốn tín dụng (tăng hơn 19%, cao nhất một thập kỷ) và đầu tư từ khu vực Nhà nước (chiếm gần 30% tổng đầu tư xã hội và tăng gần 20%), trong khi tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong nước đang suy giảm. Đáng lo ngại hơn, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đã chuyển sang mức âm.

Để hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, các chuyên gia cho rằng yếu tố then chốt nằm ở năng suất lao động và kinh tế số. Quý I/2026, các ngành kinh tế số lõi đã thu hút 1,55 triệu lao động, chiếm 2,94% tổng lao động có việc làm, tỷ trọng cao nhất trong quý I giai đoạn 2024-2026. Song, nhận định từ Hội thảo quốc gia về kinh tế Việt Nam cho rằng kinh tế số Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đòi hỏi cải cách thể chế đồng bộ hơn nữa.

Đây chính là lúc “Đổi mới 2.0” được nhắc đến như một đòi hỏi tất yếu. Sự chuyển động mạnh mẽ của Chính phủ trong cải cách thể chế, đầu tư hạ tầng và thúc đẩy môi trường kinh doanh đang được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Các chuyên gia UOB đánh giá: “Kinh tế Việt Nam năm 2026 tiếp tục giữ đà ổn định, được hỗ trợ bởi cam kết mạnh mẽ của Chính phủ trong thúc đẩy tăng trưởng, đầu tư hạ tầng, cùng lực kéo từ xuất khẩu và FDI”.

Hơn nửa thế kỷ sau ngày thống nhất, nền kinh tế Việt Nam đã đi qua một hành trình đầy gian nan nhưng cũng tràn đầy tự hào. Từ vạch xuất phát thấp nhất, chúng ta đã vươn lên để sánh vai cùng các nền kinh tế hàng đầu khu vực. Đứng trước ngưỡng cửa của “Đổi mới 2.0”, câu hỏi không còn là “có tăng trưởng hay không”, mà là “tăng trưởng như thế nào” để khát vọng thịnh vượng của cả dân tộc trở thành hiện thực.

Nguyễn Chuẩn