Nghiên cứu - Trao đổi
Nâng cao năng lực thích ứng cho thị trường năng lượng
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới còn nhiều biến động khó lường, những cải cách của Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực thích ứng...
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương.
Theo đó, Nghị quyết quy định việc phân cấp, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong 10 lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, gồm: hóa chất; điện lực; thuốc lá; xăng dầu; thương mại điện tử; thương mại quốc tế; xuất nhập khẩu; xúc tiến thương mại; hoạt động sở giao dịch hàng hóa và công nghiệp địa phương.
Đáng chú ý, về điều kiện kinh doanh xăng dầu, Nghị quyết cắt giảm một số nội dung tại các Điều 7, 13, 19, 22 và 24 của Nghị định 83/2014/NĐ-CP.

Đối với thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu, cần có cầu cảng chuyên dụng bảo đảm tiếp nhận được tàu chở xăng dầu hoặc phương tiện vận tải xăng dầu khác có trọng tải tối thiểu 7.000 tấn, thuộc sở hữu doanh nghiệp hoặc đồng sở hữu hoặc thuê sử dụng từ 5 năm trở lên; có kho tiếp nhận xăng dầu nhập khẩu dung tích tối thiểu 15.000 m3 để trực tiếp nhận xăng dầu từ tàu chở xăng dầu và phương tiện vận tải xăng dầu chuyên dụng khác, thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc thuê từ 5 năm trở lên.
Có hệ thống phân phối xăng dầu với tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ, trong đó có ít nhất 5 cửa hàng thuộc sở hữu của doanh nghiệp; tối thiểu 40 tổng đại lý kinh doanh xăng dầu hoặc đại lý bán lẻ xăng dầu hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu thuộc hệ thống phân phối của thương nhân. Thương nhân đầu mối kinh doanh nhiên liệu hàng không không bắt buộc phải có hệ thống phân phối như quy định tại khoản 5 điều 7 Nghị định 83/2014/NĐ-CP.
Đối với thương nhân phân phối xăng dầu, phải có hệ thống phân phối tối thiểu 5 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc sở hữu hoặc thuê với thời hạn thuê từ 5 năm trở lên, trong đó có ít nhất 3 cửa hàng thuộc sở hữu; tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ xăng dầu thuộc các đại lý hoặc thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu được cấp giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu.
Bên cạnh đó, đối với đại lý bán lẻ hoặc thương nhân nhận quyền chỉ cần có cửa hàng đủ điều kiện theo quy định. Cửa hàng bán lẻ xăng dầu phải thuộc sở hữu hoặc thuê tối thiểu 5 năm của thương nhân kinh doanh xăng dầu và đứng tên trên giấy chứng nhận đủ điều kiện.
Đồng thời, cửa hàng phải được thiết kế, xây dựng, trang bị theo quy chuẩn kỹ thuật, bảo đảm yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, quy định mới cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận và vận tải xăng dầu.
Cụ thể, Nghị quyết cũng bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu theo quy định tại điều 27; điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải xăng dầu quy định tại điều 28 của Nghị định 83/2014/NĐ-CP.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới còn nhiều biến động khó lường, những cải cách này của Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực thích ứng, đồng thời tạo nền tảng dài hạn cho một thị trường xăng dầu vận hành theo cơ chế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiệu quả hơn.

Theo các chuyên gia, việc cắt giảm mạnh các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu không chỉ giúp giảm chi phí và rào cản gia nhập thị trường, mà còn góp phần hạn chế cơ chế “xin – cho”, nâng cao tính minh bạch trong quản lý. Khi các điều kiện được thiết kế theo hướng thực chất hơn, thị trường sẽ có thêm động lực cạnh tranh, từ đó nâng cao hiệu quả phân phối và đảm bảo nguồn cung ổn định.
Liên quan đến nội dung này, trước đó góp ý Dự thảo Nghị quyết, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận Dự thảo đã bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ cho thuê cảng, kho tiếp nhận xăng dầu và dịch vụ vận tải xăng dầu. Tuy nhiên, VCCI cho rằng mức độ cải cách trong lĩnh vực này vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng.
Về yêu cầu sở hữu cơ sở vật chất, Dự thảo vẫn giữ nguyên các điều kiện mang tính áp đặt mô hình kinh doanh, cụ thể là yêu cầu thương nhân đầu mối phải sở hữu hoặc thuê cầu cảng tiếp nhận tàu tối thiểu 7.000 tấn, kho chứa tối thiểu 15.000 m³, tối thiểu 10 cửa hàng bán lẻ (trong đó 05 thuộc sở hữu) và 40 tổng đại lý hoặc đại lý.
Theo VCCI, các yêu cầu này thực chất là Nhà nước quy định sẵn quy mô và mô hình tổ chức kinh doanh cho doanh nghiệp, thay vì để thị trường quyết định. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cần được tự do lựa chọn mô hình kinh doanh phù hợp với năng lực và chiến lược của mình, miễn là đáp ứng các yêu cầu về an toàn, chất lượng và bảo vệ môi trường.
Về rào cản gia nhập thị trường, các ngưỡng tối thiểu về cơ sở vật chất nêu trên tạo rào cản gia nhập rất cao, trên thực tế chỉ một số ít tập đoàn lớn mới có thể đáp ứng. Điều này hạn chế cạnh tranh, duy trì cấu trúc thị trường tập trung và gián tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng thông qua giá bán lẻ.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nước quản lý thị trường xăng dầu chủ yếu bằng quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn phòng cháy chữa cháy, nghĩa vụ dự trữ bắt buộc và cơ chế giám sát giá, thay vì quy định chi tiết về quy mô cơ sở vật chất của từng tầng nấc phân phối”, VCCI góp ý.
Về yêu cầu thời hạn thuê tối thiểu 05 năm, quy định này cũng chưa thực sự hợp lý trong bối cảnh thị trường bất động sản thương mại ngày càng linh hoạt và xu hướng chuyển đổi năng lượng đang thay đổi nhanh chóng cơ cấu tiêu thụ nhiên liệu. Yêu cầu thuê dài hạn buộc doanh nghiệp phải gánh chịu rủi ro tài chính lớn, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi sang xe điện khi nhu cầu xăng dầu có thể giảm dần.
Do đó, VCCI đề nghị Bộ Công Thương xem xét chuyển đổi cách tiếp cận quản lý từ việc quy định chi tiết quy mô, mô hình kinh doanh sang quản lý bằng quy chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ dự trữ, nghĩa vụ báo cáo và cơ chế giám sát thị trường.
Cụ thể, nên cân nhắc bãi bỏ hoặc giảm đáng kể các yêu cầu về số lượng cửa hàng thuộc sở hữu, dung tích kho tối thiểu và trọng tải cầu cảng tối thiểu, thay thế bằng các yêu cầu về năng lực tài chính, tuân thủ quy chuẩn an toàn và nghĩa vụ dự trữ lưu thông tối thiểu. Bởi, cách tiếp cận này vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp mới gia nhập thị trường, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và mang lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng.
Được biết, Nghị quyết số 19/2026/NQ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 29/4/2026, trong đó Điều 3 và Phụ lục I có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực. Theo quy định, nghị quyết sẽ hết hiệu lực từ ngày 01/3/2027, trừ trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực trước thời điểm này thì các quy định tương ứng sẽ chấm dứt hiệu lực theo văn bản mới.