Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Ngành nuôi biển “chọn mặt gửi vàng”

Thy Hằng 03/05/2026 01:12

Ngành nuôi biển Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải “chọn mặt gửi vàng” trong phát triển đối tượng nuôi, bám sát tín hiệu thị trường và đầu tư đồng bộ công nghệ, giống và chuỗi giá trị.

Châu Á hiện là trung tâm của nuôi trồng thủy hải sản toàn cầu, trong đó Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có vai trò đáng kể. Tuy nhiên, đằng sau đà tăng trưởng, ngành nuôi trồng thủy hải sản cũng đang phải đối mặt với nhiều áp lực.

2bien224_0a10457179.jpeg
Định hướng đến năm 2030, diện tích nuôi biển của Việt Nam đạt 300.000ha, sản lượng 1,45 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 - 2 tỉ USD

Phát triển đối tượng "trụ cột"

Chuyên gia nhận định, bối cảnh khách quan yêu cầu ngành thủy sản phải chuyển dịch từ khai thác sang nuôi trồng bền vững, việc xác định đối tượng nuôi biển chủ lực và tiềm năng được xem là yếu tố quyết định để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường xuất khẩu và hướng tới phát triển kinh tế biển hiện đại, bền vững.

Cụ thể, Lãnh đạo Cục Thuỷ sản và Kiểm ngư, Bộ NN&MT nhận định, trong giai đoạn trước mắt, ngành thủy sản vẫn cần tập trung phát triển các đối tượng nuôi truyền thống đã có nền tảng vững chắc về giống, quy trình và công nghệ.

Các loài như cá song, cá giò, cá vược, cá chẽm, cá chim trắng, hồng mỹ… hiện đã được nuôi phổ biến, có kỹ thuật tương đối ổn định và khả năng thương mại tốt. Đây là nhóm đối tượng đóng vai trò "trụ cột", góp phần duy trì sản lượng và tạo thu nhập ổn định cho người nuôi. Những đối tượng đã có quy trình công nghệ tốt, giống ổn định thì cần tiếp tục phát triển trước, hạn chế rủi ro trong sản xuất.

Một trong những vấn đề được các chuyên gia đặc biệt lưu ý là phát triển nuôi biển phải gắn chặt với tín hiệu thị trường. Việc mở rộng ồ ạt một đối tượng khi chưa có đầu ra ổn định có thể dẫn đến tình trạng dư thừa nguồn cung, giá giảm, gây thiệt hại cho người nuôi.

Do đó, chiến lược phát triển cần có lộ trình rõ ràng, lựa chọn đối tượng theo từng giai đoạn, tránh chạy theo phong trào.

1bien224_488330d37a.jpeg
Việc xác định đối tượng nuôi biển chủ lực và tiềm năng được xem là yếu tố quyết định để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường

Cùng với đó, xu hướng nuôi biển hiện đại đang chuyển sang mô hình đa loài, kết hợp giữa cá, rong biển, nhuyễn thể… nhằm tối ưu hệ sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Đồng bộ các yếu tố nền tảng

Chia sẻ góc nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, ông Tai Chu Chun, Chuyên gia Đài Loan, Trung Quốc cho rằng, Việt Nam cần xây dựng một ngành nuôi biển có khả năng cạnh tranh dài hạn. Trong đó, ba yếu tố mang tính quyết định gồm: công nghệ sản xuất, tối ưu con giống và tư duy thị trường toàn cầu.

“Nếu không được tính toán và triển khai đồng bộ ngay từ đầu, ngành nuôi biển có thể đối mặt với những hệ quả kéo dài, từ chi phí cao đến mất cân đối cung - cầu. Ngược lại, nếu tận dụng tốt lợi thế và chuyển đổi đúng hướng, Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị thủy sản toàn cầu, hướng tới hình thành những sản phẩm có vị thế cạnh tranh bền vững trong khu vực”, ông Tai Chu Chun nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến cho rằng, với các địa phương, cần quy hoạch và tổ chức lại sản xuất ở khu vực ven bờ. Đồng thời đẩy mạnh mở rộng nuôi biển xa bờ theo hướng hiện đại và bền vững.

Ngoài ra các thể chế, chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy trình công nghệ liên quan đến phát triển nuôi biển cũng cần được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Đồng thời cần quan tâm mạnh mẽ và liên tục hơn đến phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nuôi biển, để các tiến bộ công nghệ sớm mang lại hiệu quả thiết thực cho ngành.

Ông Ngô Thế Anh, đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, trong giai đoạn tới, ngành thủy sản Việt Nam tiếp tục xác định nuôi biển là một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đã được Thủ tướng phê duyệt.

Theo đó định hướng đến năm 2030, diện tích nuôi biển đạt 300.000ha, sản lượng 1,45 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 - 2 tỉ USD và Việt Nam hướng đến mục tiêu trở thành cường quốc nuôi biển trong khu vực và trên thế giới.

Để đạt mục tiêu này, ngành thủy sản xác định 4 định hướng phát triển lớn. Một là phát triển công nghiệp quy mô lớn, hình thành các vùng nuôi biển trọng điểm quốc gia, hiện đại hóa hệ thống lồng bè và cơ sở hạ tầng hậu cần.

"Cần đẩy mạnh công nghiệp hóa nuôi biển quy mô lớn thông qua quy hoạch và hình thành các vùng nuôi trọng điểm tại những khu vực có lợi thế. Đồng thời việc hiện đại hóa hệ thống lồng bè và đầu tư hạ tầng hậu cần chuyên dụng phải được triển khai đồng bộ, nhằm bảo đảm năng lực sản xuất, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm thủy sản" - ông Thế Anh nhấn mạnh.

Thứ hai, đầu tư vào công nghệ lõi, tập trung nghiên cứu và sản xuất giống, thức ăn công nghiệp, công nghệ tuần hoàn khép kín và số hóa toàn diện quy trình nuôi.

Thứ ba, hình thành hệ sinh thái nuôi biển tích hợp, liên kết chặt chẽ các khâu trong chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, đến tiêu thụ hướng tới mô hình kinh tế biển đa giá trị.

Thứ tư, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, giảm thiểu tác động môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Thy Hằng