Kinh tế

Kinh tế

“Đòn bẩy” kinh tế tư nhân

Nguyễn Ngọc Hoà (1), Nguyễn Kim Đức (2), Nguyễn Đông Phong (2), Nguyễn Thị Đài Trang (2) 06/05/2026 05:00

Trong bối cảnh xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng theo Nghị quyết 68-NQ/TW, Việt Nam cần chính sách cụ thể thúc đẩy khu vực năng động, sáng tạo, hiệu quả, phát triển bền vững.

ngan-hang_0.jpeg
Cần xây dựng quy trình, thủ tục hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp khu vực tư nhân.

Dù có nhiều lợi thế, nhưng khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

Cơ hội song hành thách thức

Khu vực KTTN của Việt Nam sở hữu các lợi thế về tính linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh, có năng lực đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp. Cùng với đó, hiểu biết sâu sắc thị trường nội địa và tâm lý tiêu dùng, khai thác linh hoạt nguồn nhân lực và tích lũy kinh nghiệm lâu dài là lợi thế cạnh tranh đặc thù của KTTN.

Cơ hội lớn cho khu vực KTTN là từ khung thể chế và chính sách mới từ Nghị quyết 68-NQ/TW. Đây không chỉ là “cửa sổ cơ hội”, mà còn mở ra những ưu đãi và tiếp cận nguồn lực - Nhà nước đang từng bước mở rộng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai và các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp – đổi mới sáng tạo cho KTTN.

Môi trường vĩ mô ổn định và hội nhập quốc tế cùng sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng và chuyển dịch xã hội, xu hướng đổi mới sáng tạo, công nghệ và hạ tầng số – xanh,… cũng là những điều kiện thuận lợi cho khu vực này.

Tuy nhiên, khu vực này khó tiếp cận vốn, đất đai, và chính sách ưu đãi. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) thường gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng dài hạn do thiếu tài sản thế chấp, báo cáo tài chính chuẩn hóa, trong khi vẫn chịu lãi suất tương đối cao.

Bên cạnh đó, các SMEs có quy mô nhỏ và năng lực quản trị hạn chế; thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao; hạn chế về công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo; thiếu liên kết trong chuỗi giá trị khiến khu vực này vẫn chưa phát triển được các tiềm năng, lợi thế.

Đặc biệt, KTTN cũng chịu thách thức cạnh tranh gay gắt và “sân chơi” chưa thật sự bình đẳng. Doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN phải cạnh tranh trực diện không chỉ với các doanh nghiệp trong nước, mà còn với khu vực FDI. Ngoài ra, có khoảng trống thực thi và bất định chính sách, pháp lý; áp lực chuẩn xanh, ESG và rủi ro môi trường – tài nguyên lẫn biến động vĩ mô – thương mại và chi phí logistics. Cùng với đó là sức ép chuyển đổi số và đứt gãy công nghệ; dịch chuyển thị hiếu và áp lực đổi mới sản phẩm...

Giải pháp từ tiếp cận Nghị quyết 68-NQ/TW

Nhằm thực thi hiệu quả chủ trương phát triển KTTN theo tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW, cần đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể dựa trên Khung phát triển kinh tế tư nhân phân theo 3 cấp độ tác động: chính sách và thể chế; chức năng thị trường; nguồn lực doanh nghiệp. Trong đó, trên cơ sở ổn định vĩ mô và và góc độ tài chính, cần chú trọng xây dựng những định chế, nguồn lực chiến lược cấp quốc gia nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trước biến động. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hoá thị trường và chuỗi cung ứng: hỗ trợ khai thác các FTA; thúc đẩy kết nối trong nước, kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.

Đặc biệt đối với chính sách hạ tầng, cần ưu tiên chính sách đầu tư công vào các trung tâm logistics, cảng cạn, và kết nối hạ tầng giao thông đa phương thức; đầu tư hạ tầng số; hỗ trợ tiếp cận đất đai và tài sản công.

Ngoài ra, cần phát triển các kênh huy động vốn phi ngân hàng; xây dựng các chính sách ưu đãi thuế linh hoạt: hỗ trợ lãi suất cho các ngành nghề ưu tiên; xây dựng hệ thống quản lý thuế minh bạch và có chính sách truyền thông hiệu quả và tăng cường vai trò tư vấn, hướng dẫn của các cơ quan quản lý Nhà nước trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

Đối với thị trường lao động, Nhà nước cần thiết lập mối quan hệ hợp tác và ủy thác các dự án cụ thể cho các tập đoàn kinh tế nội địa hàng đầu; xây dựng văn hoá liên kết và hợp tác giữa các bên.

Trong cấp độ tác động chức năng thị trường, với dịch vụ tài chính, cần mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp thông qua đa dạng hóa nguồn tài chính (ngân hàng, quỹ đầu tư, thị trường vốn, fintech); xây dựng Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo – chuyển đổi xanh, số với nguồn ngân vốn từ ngân sách Nhà nước, quỹ đầu tư và hợp tác công – tư nhằm hỗ trợ doanh nghiệp thuộc KTTN; cần xây dựng quy trình, thủ tục hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp cho doanh nghiệp khu vực tư nhân.

Hiện nay, các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đang nắm giữ nguồn lực khá lớn, trong đó có những lĩnh vực, ngành nghề Nhà nước không cần nắm giữ. Do đó, Nhà nước cần đẩy mạnh cổ phần hóa để thu hút đầu tư tư nhân vào những lĩnh vực này, vừa giúp tận dụng và phát huy tốt các nguồn lực, không để lãng phí, vừa mở ra cơ hội cho đầu tư phát triển KTTN,…

Nhìn chung, cả khu vực KTTN và kinh tế Nhà nước cần nỗ lực cao trong cải tiến quản trị, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ ở các tập đoàn, nâng cao tinh thần đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đầu tư cho R&D, và nghiên cứu thị trường, nắm vững nhu cầu khách hàng,… để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

(1) Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước và (2) Đại học Kinh tế TP HCM)

Nguyễn Ngọc Hoà (1), Nguyễn Kim Đức (2), Nguyễn Đông Phong (2), Nguyễn Thị Đài Trang (2)