Doanh nghiệp
Doanh nghiệp xi măng gặp “bài toán kép” khi giảm phát thải
Áp lực giảm phát thải theo hạn ngạch carbon trong khi vẫn phải đảm bảo chi phí và năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp xi măng đang đứng trước “bài toán kép” khó giải.
Theo ông Lương Đức Long, Phó chủ tịch Hiệp hội Xi măng Việt Nam, đầu năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 - 2026, trong đó quy định cụ thể đối tượng áp dụng.

Còn nhiều thách thức
Riêng ngành xi măng, có 51 doanh nghiệp sản xuất được giao hạn mức phát thải, dự kiến đến năm 2026 sẽ mở rộng lên hơn 60 doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, đến năm 2027, toàn ngành xi măng được phân bổ tổng lượng phát thải khoảng 2,6 triệu tấn CO₂. Căn cứ theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ôzôn, giai đoạn thí điểm sẽ kéo dài đến hết năm 2028, sau đó hình thành thị trường carbon trong nước và bắt đầu phân bổ, giao dịch tín chỉ carbon từ năm 2029.
“Tuy nhiên, việc thực hiện các mục tiêu giảm phát thải còn gặp nhiều thách thức. Mặc dù đã phân bổ chỉ tiêu phát thải cho từng doanh nghiệp, nhưng khả năng cắt giảm trong thực tế còn hạn chế do ràng buộc về công nghệ”, ông Long cho biết.
Đồng thời ví dụ, trong sản xuất clinker, công đoạn phát thải lớn nhất của ngành xi măng, hiện nay công nghệ trên thế giới cũng đã gần đạt giới hạn tối ưu, rất khó giảm sâu hơn. Một hướng đi là giảm tỷ lệ clinker trong xi măng, tuy nhiên các nghiên cứu (như của AFC năm 2025 tại Việt Nam) cho thấy dù khả thi nhưng vẫn chịu áp lực về giá thành và thị trường.

Chuẩn hoá dữ liệu và công nghệ
Do đó, Lãnh đạo Hiệp hội Xi măng Việt Nam kiến nghị, Bộ Xây dựng giao Viện Vật liệu xây dựng tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công nghệ phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Đồng thời cho rằng, trong ngắn hạn (2025–2030) cần tối ưu nhiệt – điện, tận dụng nhiệt thải, tăng nhiên liệu thay thế, số hóa vận hành và MRV.
Từ ngắn đến trung hạ, cần giảm clinker factor, mở rộng xi măng hỗn hợp, chuẩn hóa phụ gia khoáng và cơ chế kiểm định chất lượng.
Trong trung hạn, LC3, belite clinker, geopolymer và các chất kết dính mới trong các phân khúc ứng dụng phù hợp.
Về dài hạn, CCS/CCU cho phần phát thải khó tránh và tích hợp với thị trường carbon khi hạ tầng pháp lý đủ chín.
Để thực hiện các giải pháp trên, PGS TS Lương Đức Long nhấn mạnh điều kiện nền cần có là chuẩn hóa dữ liệu, phát triển tiêu chuẩn – quy chuẩn, thiết kế cơ chế tài chính carbon và hỗ trợ đổi mới công nghệ.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, mọi lộ trình giảm phát thải phải bắt đầu từ bộ dữ liệu đầu vào đáng tin cậy và nhất quán. Cần ưu tiên giải pháp gần hạn, hiệu suất, giảm clinker factor và nhiên liệu thay thế là các hạng mục nên triển khai ngay. Cần chuẩn bị cho công nghệ sâu, CCS/CCU cần được nghiên cứu từ sớm vì đây là chìa khóa cho phần phát thải khó tránh. Đặc biệt, gắn Net Zero với chính sách công nghiệp, giảm phát thải phải song hành với an ninh vật liệu xây dựng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, ông Lê Văn Kế, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ, môi trường và Vật liệu xây dựng cho biết, Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, định hướng đến năm 2050 đã đặt ra mục tiêu cụ thể cho từng nhóm vật liệu chủ yếu như xi măng, gạch ốp lát, đá ốp lát, sứ vệ sinh, kính xây dựng, vôi công nghiệp, gạch đất sét nung, vật liệu xây không nung, cát xây dựng, đá xây dựng, bê tông... theo hướng công nghệ hiện đại hơn, tiêu hao ít hơn, phát thải thấp hơn, chất lượng cao hơn.
Từ nay đến năm 2030 và xa hơn là đến năm 2045, ngành vật liệu xây dựng phải chuyển mình từ một ngành sản xuất truyền thống sang một ngành sản xuất hiện đại, xanh, thông minh, có năng lực cạnh tranh cao, có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.
Để làm được điều đó, ông Kế cho rằng, điều kiện tiên quyết là tiếp tục thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng, chính sách của Nhà nước.
Đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, xây dựng môi trường pháp lý ổn định, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng vẫn siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong quản lý tài nguyên, môi trường, chất lượng và thị trường, sản phẩm.
Hoàn thiện chính sách pháp luật về vật liệu xây dựng là nhiệm vụ quan trọng để ngành phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và phục vụ hiệu quả hơn các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước.