Doanh nghiệp

Doanh nghiệp

Cơ chế thu hút doanh nghiệp mía đường vào "cuộc đua" giảm phát thải

Thy Hằng 07/05/2026 03:08

Chuyên gia cho rằng giảm phát thải không chỉ là chi phí tuân thủ mà còn là khoản đầu tư tăng giá trị doanh nghiệp, nâng vị thế thương hiệu và mở khả năng tiếp cận dòng vốn xanh.

Khi các thị trường lớn ngày càng gắn tiêu chí môi trường với thương mại, những cơ chế như điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU khiến doanh nghiệp phát thải cao có nguy cơ khó tiếp cận thị trường, khó huy động vốn và dần bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Những áp lực từ các thị trường này cũng như cam kết khí hậu toàn cầu buộc ngành mía đường đang phải tái cấu trúc mạnh mẽ.

images (13)
Những áp lực từ các thị trường cũng như cam kết khí hậu toàn cầu buộc ngành mía đường đang phải tái cấu trúc mạnh mẽ

Khoản đầu tư tăng giá trị

“Trong nước, sau cam kết tại COP26 về phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, cùng các quy định về kiểm kê khí nhà kính và lộ trình giảm phát thải, doanh nghiệp phải từng bước tuân thủ. Giảm phát thải không chỉ là chi phí tuân thủ mà còn là khoản đầu tư tăng giá trị doanh nghiệp, nâng vị thế thương hiệu và mở khả năng tiếp cận dòng vốn xanh”, TS Cao Anh Đương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Mía đường nhấn mạnh.

Tuy vậy, vị chuyên gia cho biết, thực trạng ngành mía đường cho thấy quá trình chuyển đổi không dễ.

Theo đó, TS Cao Anh Đương phân tích, mía đường vẫn là ngành sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân lỏng lẻo. Cụ thể, phần lớn nhà máy đường không sở hữu đất mà ký hợp đồng với nông dân, ứng vốn, giống, phân bón, vật tư, sau đó bao tiêu nguyên liệu, mối liên kết này thiếu ổn định, chủ yếu theo từng chu kỳ mía tơ, thiếu tính dài hạn và gần như chưa có cơ chế pháp lý rõ ràng về chia sẻ lợi ích giữa các bên.

"Nếu nông dân không còn lợi nhuận và bỏ cây mía, nhà máy đường sẽ mất nền tảng tồn tại", TS Đương cảnh báo.

TS Đương chỉ rõ trong toàn chuỗi cung ứng, khâu trồng mía là nguồn phát thải lớn nhất, có thể chiếm tới 80%, chủ yếu do sử dụng phân bón, đặc biệt là phân đạm, nhiên liệu hóa thạch cùng tập quán đốt lá mía trước hoặc sau thu hoạch.

Dựa trên hệ số phát thải tham chiếu từ một số nghiên cứu quốc tế về ngành đường tại quốc gia có điều kiện tương đồng, ông Đương ước tính với sản lượng khoảng 1,3 triệu tấn đường trong niên vụ 2024 - 2025, tổng phát thải của ngành có thể tới 700.000 tấn CO2e.

nganh-mia-duong-09543077.jpg
Ước tính với sản lượng khoảng 1,3 triệu tấn đường trong niên vụ 2024 - 2025, tổng phát thải của ngành có thể tới 700.000 tấn CO2e

Giảm phát thải từ cấp vùng nguyên liệu

Do đó, vị chuyên gia nhận định, trọng tâm giảm phát thải của ngành không nằm ở nhà máy mà phải đặt ở cấp nông hộ và vùng nguyên liệu.

Đồng quan điểm, ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia Forest Trends cũng cho rằng, liên kết nông dân - doanh nghiệp lỏng lẻo, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích, lạm dụng vật tư đầu vào, canh tác độc canh kéo dài và nguy cơ suy thoái đất là những nguyên nhân giảm phát thải trong ngành mía đường còn gặp khó.

Trong khi đó, cây mía được đánh giá có những lợi thế mà ít mặt hàng có được như sinh khối lớn, khả năng hấp thụ carbon cao, tỷ lệ phụ phẩm lớn và có tiềm năng phát triển kinh tế tuần hoàn. Cụ thể, phần thân dùng để ép đường chỉ chiếm một phần, còn lại là ngọn, lá, bã mía, mật rỉ và bùn lọc. Bã mía có thể dùng phát điện sinh khối, mật rỉ là nguyên liệu cho sản xuất ethanol, thức ăn chăn nuôi hoặc công nghiệp thực phẩm, bùn lọc có thể phối trộn sản xuất phân hữu cơ. Thậm chí, thế giới ngày càng nhìn cây mía dưới tư cách "cây năng lượng" sản xuất điện sinh khối từ ngành đường đang ngày càng được các quốc gia chú trọng.

Hiện tại Việt Nam đã có doanh nghiệp thí điểm canh tác mía đường giảm phát thải. Trong đó, thay đổi thực hành canh tác theo hướng giảm phát thải và tăng tích lũy carbon trong đất, giảm phân đạm, tăng phân hữu cơ, hạn chế đốt tàn dư mía sau thu hoạch, giảm số lần làm đất, cày bừa. Đặc biệt, dữ liệu vệ tinh, phân tích đất và công nghệ số được dùng để theo dõi phát thải và phục vụ hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV).

Tuy nhiên, giá trị kinh tế trực tiếp từ tín chỉ carbon được đánh giá hiện chưa đủ hấp dẫn để doanh nghiệp xem là động lực chính. Bởi nếu diện tích nhỏ, vùng nguyên liệu phân tán, dữ liệu không đồng nhất, chi phí càng cao thì khả năng nhân rộng càng khó.

Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý, nhìn nhận không nên nhìn carbon như mục tiêu duy nhất mà nên được xem là công cụ và là phần giá trị gia tăng trong quá trình tái cấu trúc ngành. Giá trị lớn hơn nằm ở tối ưu hệ thống canh tác, giảm phân bón hóa học, giảm chi phí đầu vào, cải tạo đất, hạn chế ô nhiễm do đốt sinh khối, chuẩn hóa dữ liệu sản xuất và cải thiện năng lực quản trị doanh nghiệp. “Lợi ích của chuyển đổi nằm ở hiệu quả tổng thể của mô hình sản xuất bền vững hơn”, ông Dương nhấn mạnh.

Trong khi đó, ông Tô Xuân Phúc nhận định, thị trường carbon nội địa có thể là hướng đi đáng chú ý. Khi các doanh nghiệp phát thải lớn trong nước phải tuân thủ nghĩa vụ giảm phát thải, nhu cầu tín chỉ carbon nội địa có thể tăng và tạo thêm cơ hội cho ngành nông nghiệp, trong đó có mía đường.

“Tuy nhiên, để điều đó thành hiện thực, điều kiện tiên quyết vẫn là khung pháp lý rõ ràng, đặc biệt liên quan tới đo đạc, xác nhận phát thải, quyền sở hữu tín chỉ và cơ chế phân chia lợi ích”, ông Phúc nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Diệu Hiền, chuyên gia năng lượng sinh học thuộc GGGI Việt Nam đánh giá, rất nhiều doanh nghiệp muốn chuyển đổi, nhưng thiếu cơ chế khuyến khích cụ thể, đặc biệt là quyền sở hữu tín chỉ carbon. Nếu không giải quyết được bài toán lợi ích, ngành mía đường khó có thể tái cấu trúc theo hướng tuần hoàn.

Thy Hằng