Tâm điểm

Tâm điểm

Kỳ vọng tăng trưởng cao từ “Gói hỗ trợ thể chế”

PGS, TS Ngô Trí Long - Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam 14/05/2026 05:00

Việc Chính phủ đồng loạt ban hành 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh được xem như một “gói hỗ trợ thể chế” quy mô lớn.

giam-tthc-kinhdoanh-f3_h84.jpg
Thường trực Chính phủ có thông báo chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Nguồn: TTX

Chính phủ vừa ban hành 8 Nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc quản lý của nhiều bộ, ngành trọng yếu. Theo công bố, gói cải cách lần này sửa đổi, bổ sung 163 văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời bãi bỏ, đơn giản hóa hoặc phân cấp 184 thủ tục hành chính và 890 điều kiện kinh doanh. Quy mô cải cách cho thấy quyết tâm mạnh mẽ trong việc tháo gỡ những rào cản thể chế vốn được cộng đồng doanh nghiệp phản ánh trong nhiều năm qua.

“Thuế vô hình” bào mòn sức cạnh tranh

Chi phí của doanh nghiệp không chỉ nằm ở lãi vay, giá nguyên liệu, tiền lương hay thuế, phí, một gánh nặng ngày càng lớn nhưng khó định lượng chính là chi phí tuân thủ pháp luật. Đó là thời gian chờ cấp phép, chi phí bổ sung hồ sơ nhiều lần, đi lại, thuê tư vấn, chi phí cơ hội do dự án chậm triển khai, đơn hàng bị lỡ nhịp và dòng tiền bị đình trệ.

Trên thực tế, không ít doanh nghiệp có vốn, có thị trường, có đối tác nhưng vẫn chưa thể triển khai dự án đúng kế hoạch do vướng mắc về đất đai, xây dựng, phòng cháy chữa cháy, môi trường, kiểm định hoặc các giấy phép chuyên ngành. Có những dự án không chậm vì thiếu vốn, mà chậm vì phải đi qua quá nhiều tầng nấc thủ tục, nhiều vòng xin ý kiến và nhiều cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan thực thi.

Trong môi trường kinh doanh, thời gian chính là chi phí. Một tháng chậm thủ tục có thể khiến doanh nghiệp tăng chi phí lãi vay, mất cơ hội thị trường, bỏ lỡ đơn hàng và suy giảm niềm tin của nhà đầu tư. Ở góc độ này, những thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh không cần thiết chẳng khác nào một loại “thuế vô hình” đang âm thầm bào mòn sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Mỗi điều kiện kinh doanh bất hợp lý được bãi bỏ, mỗi quy trình được rút ngắn, mỗi quy định được minh bạch hóa đều đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiết kiệm thêm nguồn lực để đầu tư, mở rộng sản xuất và tạo việc làm. Nếu cộng hưởng trên quy mô toàn nền kinh tế, phần chi phí tiết kiệm được này chính là một nguồn lực tăng trưởng rất lớn.

Hỗ trợ doanh nghiệp bằng cải cách

Khác với các gói hỗ trợ bằng ngân sách như giảm thuế, miễn phí, cấp bù lãi suất hay tăng chi tiêu công, cải cách thể chế tạo tác động theo cách ít tốn kém hơn nhưng hiệu quả lâu dài hơn.

Khi Nhà nước cắt bỏ điều kiện kinh doanh bất hợp lý, đơn giản hóa thủ tục, phân cấp rõ trách nhiệm, liên thông dữ liệu và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, doanh nghiệp được hưởng lợi trực tiếp mà ngân sách không phải chi thêm. Nói cách khác, nền kinh tế không chỉ cần “bơm tiền”, mà cần được tháo gỡ những điểm nghẽn đang làm chậm dòng vốn, dự án và cơ hội kinh doanh.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao trong những năm tới, đồng thời vẫn phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn nợ công và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, cải cách điều kiện kinh doanh càng cho thấy ý nghĩa chiến lược. Bởi lẽ, tăng trưởng bền vững không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào việc mở rộng tín dụng hay gia tăng chi tiêu công, mà phải được tạo dựng trên nền tảng năng suất cao hơn, nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn và môi trường thể chế thông thoáng hơn.

Từ góc độ đó, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh có thể được xem như một “gói hỗ trợ thể chế” quy mô lớn, không làm tăng chi ngân sách nhưng mang lại tác động trực tiếp cho cộng đồng doanh nghiệp thông qua việc tháo gỡ rào cản, giảm chi phí tuân thủ và giải phóng nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.

Cắt giảm điều kiện kinh doanh phải thực chất

Tuy nhiên cắt giảm trên văn bản chưa đồng nghĩa với cải cách trong thực tế. Nếu một thủ tục bị bãi bỏ nhưng lại phát sinh thêm giấy tờ khác; hồ sơ nộp trực tuyến vẫn phải nộp song song bản giấy; điều kiện kinh doanh được cắt giảm nhưng doanh nghiệp vẫn phải đi qua nhiều “cửa mềm”; hoặc địa phương ngại trách nhiệm khi được phân cấp, thì hiệu quả cải cách sẽ bị triệt tiêu.

Thực tế cho thấy, điều doanh nghiệp lo ngại không phải là sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước, mà là sự thiếu nhất quán trong quá trình thực thi. Khi quy định rõ ràng, ổn định và được áp dụng thống nhất, doanh nghiệp có thể chủ động tính toán chi phí, đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn. Ngược lại, nếu mỗi nơi hiểu một cách, mỗi cán bộ vận dụng một kiểu, thì rủi ro pháp lý sẽ tiếp tục trở thành gánh nặng vô hình, làm chậm tiến độ dự án, thu hẹp động lực mở rộng sản xuất và bào mòn niềm tin của nhà đầu tư.

Vì vậy, cải cách điều kiện kinh doanh phải đi liền với đổi mới tư duy quản lý nhà nước. Theo đó, cần chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro; từ cơ chế “xin – cho” sang cơ chế phục vụ; từ quản lý bằng giấy phép sang quản lý bằng dữ liệu; và từ tư duy “không quản được thì cấm” sang nguyên tắc doanh nghiệp được quyền làm những gì pháp luật không cấm. Thước đo cuối cùng của cải cách không nằm ở số lượng thủ tục hay điều kiện kinh doanh được cắt giảm trên giấy tờ, mà ở tác động thực tế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.

PGS, TS Ngô Trí Long - Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam