Ngân hàng - Chứng khoán

Ngân hàng - Chứng khoán

DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH 2026: Khơi thông và thúc đẩy khả năng hấp thụ vốn cho tăng trưởng

Đình Đại - Minh Quân - Nguyễn Hùng 20/05/2026 14:55

Việc khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế cần được thực hiện đồng bộ, hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô.

2 Bàn chủ toạ
Các đại biểu (từ trái qua): ông Trịnh Sơn Hồng - Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh; PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM; ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI; ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước và Nhà báo Phạm Hùng - Phó TBT tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và bất định lớn. Đặc biệt, từ cuối tháng 2/2026, xung đột Trung Đông leo thang đã tạo ra cú sốc mới đối với kinh tế toàn cầu, làm gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng, đẩy giá dầu tăng mạnh và gia tăng đáng kể áp lực lạm phát toàn cầu.

Kinh tế thế giới còn nhiều bất định

Các tổ chức quốc tế đều duy trì quan điểm thận trọng về triển vọng kinh tế thế giới. IMF dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2026 ở mức khoảng 3,1%, OECD dự báo khoảng 2,9%, trong khi WB đưa ra mức dự báo thấp hơn là khoảng 2,6%. Những mức dự báo này đều thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước đại dịch. Đồng thời, nợ công toàn cầu tiếp tục gia tăng, điều kiện tài chính quốc tế duy trì trạng thái thắt chặt, khiến dư địa điều hành chính sách của nhiều quốc gia ngày càng thu hẹp.

Theo ông, thị trường tài chính – tiền tệ quốc tế cũng biến động mạnh. Giá dầu Brent có thời điểm vượt mốc 100 USD/thùng; giá vàng và các tài sản trú ẩn tăng mạnh; dòng vốn quốc tế dịch chuyển nhanh giữa các thị trường. Đồng USD phục hồi đáng kể trong tháng 3/2026 khi nhà đầu tư gia tăng nhu cầu nắm giữ tài sản an toàn, tạo áp lực lên tỷ giá và dự trữ ngoại hối của nhiều nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, trong đó có khu vực ASEAN.

Trong bối cảnh đó, các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới duy trì lập trường chính sách tiền tệ thận trọng. Fed tiếp tục giữ lãi suất điều hành ở mức cao; ECB và nhiều ngân hàng trung ương lớn chưa vội nới lỏng chính sách do lo ngại áp lực lạm phát quay trở lại dưới tác động của giá năng lượng và bất ổn địa chính trị. Điều này tạo ra áp lực đáng kể đối với các nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào thương mại và dòng vốn quốc tế.

Đối với Việt Nam, ông Lân cho rằng mặc dù chịu tác động bất lợi từ môi trường bên ngoài, kinh tế vĩ mô trong năm 2025 và 4 tháng đầu năm 2026 nhìn chung tiếp tục duy trì ổn định; tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm.

Quý I/2026, GDP của Việt Nam tăng khoảng 7,83% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục thuộc nhóm tăng trưởng cao trong khu vực. Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng mạnh với tổng kim ngạch đạt khoảng 249,5 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt khoảng 5,41 tỷ USD, tăng 9,1%, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam tiếp tục được duy trì.

Tuy nhiên, theo ông Lân, bên cạnh các kết quả tích cực, nền kinh tế cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn và rủi ro đáng lưu ý. Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng trở lại do giá năng lượng thế giới tăng mạnh; tỷ giá và thị trường ngoại hối chịu áp lực lớn hơn; mặt bằng lãi suất quốc tế duy trì ở mức cao; chi phí vốn và chi phí logistics gia tăng; hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các ngành chịu tác động trực tiếp từ suy giảm nhu cầu toàn cầu và biến động thương mại quốc tế.

“Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, trong 5 tháng đầu năm 2026, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp nhất để góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, ông Lân cho biết.

Đồng thời, NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất, công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Đến ngày 20/4/2026, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới ở mức 8,38%/năm, giảm 0,44%/năm so với cuối năm 2025.

Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ tài chính (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) phát biểu tại Diễn đàn.

Những rủi ro lớn của nền kinh tế Việt Nam

Đánh giá các rủi ro tiềm ẩn đối với những tháng còn lại của năm 2026, ông Nguyễn Phi Lân cho rằng, đối với các tháng còn lại của năm 2026, có thể nhận thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro và cơ hội đan xen.

Một là, rủi ro lạm phát và áp lực chi phí đầu vào gia tăng. Trước hết là rủi ro lạm phát gia tăng. Giá dầu và giá năng lượng toàn cầu biến động mạnh dưới tác động của xung đột địa chính trị có thể tạo ra vòng xoáy lạm phát chi phí đẩy với cường độ lớn hơn so với các giai đoạn trước. Áp lực này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, vận tải và logistics mà còn tác động đến kỳ vọng lạm phát của doanh nghiệp và người dân.

Trong bối cảnh đó, NHNN tiếp tục kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% ± 0,5% nhằm góp phần neo giữ kỳ vọng lạm phát, củng cố niềm tin thị trường và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng trong điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.

Hai là, rủi ro tỷ giá, dòng vốn và áp lực đối với hệ thống tài chính – ngân hàng. Bên cạnh rủi ro lạm phát, áp lực đối với tỷ giá, dòng vốn quốc tế và thị trường tài chính toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng trong trường hợp đồng USD duy trì xu hướng mạnh lên hoặc xung đột địa chính trị kéo dài. Đồng thời, xu hướng bảo hộ thương mại, phân mảnh chuỗi cung ứng và suy giảm thương mại toàn cầu cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu, đầu tư và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong các quý tới.

Một vấn đề đáng chú ý khác là sức khỏe tài chính và triển vọng kinh doanh của doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng. Theo kết quả Điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý I/2026, các tổ chức tín dụng nhìn chung đánh giá triển vọng kinh doanh năm 2026 vẫn tích cực nhưng thận trọng hơn đáng kể so với năm trước. Các tổ chức tín dụng kỳ vọng nhu cầu tín dụng tiếp tục phục hồi, song tốc độ phục hồi chưa đồng đều giữa các nhóm khách hàng và ngành nghề.

Kết quả điều tra cho thấy nhiều tổ chức tín dụng lo ngại rủi ro nợ xấu gia tăng trong bối cảnh chi phí vốn tăng, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn hạn chế và môi trường kinh doanh quốc tế tiềm ẩn nhiều bất định. Các tổ chức tín dụng cũng đánh giá mặt bằng lãi suất huy động có thể chịu áp lực tăng trong thời gian tới do cạnh tranh huy động vốn và áp lực tỷ giá, qua đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì mặt bằng lãi suất cho vay thấp như giai đoạn trước.

Đặc biệt, áp lực đối với hệ thống tài chính – ngân hàng đang gia tăng khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có xu hướng mở rộng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức rất cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Điều này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của nền kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với thanh khoản và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nếu xuất hiện các cú sốc từ bên ngoài hoặc chất lượng tài sản suy giảm.

Trong bối cảnh đó, dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều như các giai đoạn trước, đặc biệt khi chính sách tiền tệ đồng thời phải xử lý nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, hỗ trợ tăng trưởng và bảo đảm an toàn hệ thống. Điều này đặt ra yêu cầu cần phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, giảm dần sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng.

Tuy nhiên, kết quả điều tra cũng phản ánh niềm tin của hệ thống ngân hàng và các chuyên gia kinh tế đối với triển vọng phục hồi kinh tế trong trung hạn. Các tổ chức tín dụng tiếp tục kỳ vọng tăng trưởng tín dụng sẽ tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Các đại biểu tham dự diễn đàn.
Các đại biểu tham dự diễn đàn.

4 khuyến nghị đối với cộng đồng doanh nghiệp

Đưa ra khuyến nghị đối với cộng đồng doanh nghiệp, ông Lân cho rằng trong bối cảnh hiện nay, việc khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế cần được thực hiện đồng bộ, hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, NHNN nhận thấy:

Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin, cơ cấu lại dòng tiền và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Doanh nghiệp cần sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực chất, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Thứ hai, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công – tư và các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác. Việc phát triển cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và các kênh dẫn vốn khác không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu tài chính mà còn góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tăng tính bền vững của nền kinh tế.

Thứ ba, trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động mạnh, doanh nghiệp cần đặc biệt thận trọng với các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ, rủi ro cao hoặc phụ thuộc quá lớn vào biến động ngắn hạn của thị trường tài sản. Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, ngoại tệ, hàng hóa và tài sản tài chính quốc tế cho thấy tâm lý đầu cơ có thể làm gia tăng rủi ro tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng không đúng mục đích có thể làm gia tăng nợ xấu, truyền dẫn rủi ro từ doanh nghiệp sang hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro có tính hệ thống, có thể gây ra những hệ lụy rất khó khắc phục.

Thứ tư, doanh nghiệp không nên quá bi quan hoặc phản ứng nóng vội trước các biến động ngắn hạn của kinh tế thế giới. Việt Nam có nhiều nền tảng tích cực như ổn định chính trị – xã hội, độ mở thương mại cao, khả năng thu hút FDI tốt, lực lượng lao động dồi dào và vị thế ngày càng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là những yếu tố quan trọng để nền kinh tế duy trì khả năng chống chịu, phục hồi, tiếp tục tăng trưởng tích cực trong trung và dài hạn.

Định hướng điều hành của NHNN thời gian tới

Về phía ngành ngân hàng, ông Lân cho biết, NHNN cùng hệ thống các TCTD sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng và phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ – ngoại hối và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.

Theo ông, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng công nghệ để giảm chi phí vốn, qua đó phấn đấu duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng.

Cùng với đó, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Công tác điều hành tỷ giá sẽ được thực hiện linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế nhằm góp phần hấp thụ các cú sốc bên ngoài, ổn định tâm lý thị trường và hỗ trợ kiểm soát lạm phát.

“Ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương trong triển khai các chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn, thúc đẩy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và khơi thông hiệu quả các dòng vốn phục vụ tăng trưởng. Hay nói một cách khác, ngành Ngân hàng luôn và tiếp tục đồng hành doanh nghiệp trong quá trình phát triển”, ông Lân nhấn mạnh.

Diễn đàn "Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh" có sự tham dự của ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI; Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước; Ông Trịnh Sơn Hồng - Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh; PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM; Ông Nguyễn Thanh Toàn - Phó Giám đốc Sở Tài chính TP HCM; Ông Trần Ngọc Liêm - Giám đốc VCCI chi nhánh Khu vực TP HCM; Bà Nguyễn Thị Toại - Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Tài chính; Bà Trần Thị Hải Yến - Giám đốc Trung tâm xúc tiến, thông tin và hỗ trợ đầu tư phía Nam, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính); Bà Huỳnh Thị Hồng Nhung- Giám đốc sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh; TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright - ĐH Fulbrigh; Ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP HCM…

Về phía ban tổ chức có sự tham dự của Nhà báo Phạm Hùng – Phó Tổng biên tập, Trưởng VP Đại diện Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tại TP HCM; Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng - Phó Tổng Biên tập. Cùng sự tham dự của đại diện các sở, ngành của các địa phương trong vùng, các Hiệp hội, các doanh nghiệp, các chủ đầu tư, tổ chức và định chế tài chính, quỹ đầu tư, nhà đầu tư trên địa bàn TP HCM và khu vực phía Nam.

Đình Đại - Minh Quân - Nguyễn Hùng