Ngân hàng - Chứng khoán
[TRỰC TUYẾN] DIỄN ĐÀN TÀI CHÍNH 2026: “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh”
Chiều ngày 20/5, tại TP HCM, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Diễn đàn tài chính 2026: “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh”.
Nhằm làm rõ các khó khăn hiện hữu, đề xuất giải pháp giúp doanh nghiệp nhận diện các cơ hội và tiếp đa dạng dòng vốn, kết nối các nguồn lực hiệu quả hơn, đồng thời tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp, góp phần kiến tạo động lực cho doanh nghiệp tăng tốc mở rộng đầu tư kinh doanh, đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, dưới sự chỉ đạo của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Diễn đàn tài chính 2026: “Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh”.

Diễn đàn “Khơi thông nguồn vốn, kết nối đa kênh” có sự tham dự của ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI; Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước; Ông Trịnh Sơn Hồng - Quyền Chủ tịch Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM; PGS TS Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM; Bà Nguyễn Thị Minh Vân - Phó Giám đốc Sở Tài chính TP HCM; Ông Trần Ngọc Liêm - Giám đốc VCCI Chi nhánh Khu vực TP HCM; Bà Nguyễn Thị Toại - Trưởng đại diện Văn phòng Bộ Tài chính; Bà Huỳnh Thị Hồng Nhung- Giám đốc sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh; TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright - ĐH Fulbrigh; Ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP HCM…
Về phía ban tổ chức có sự tham dự của Nhà báo Phạm Hùng – Phó Tổng Biên tập, Trưởng VP Đại diện Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tại TP HCM; Nhà báo Nguyễn Tiến Dũng - Phó Tổng Biên tập. Cùng sự tham dự của đại diện các sở, ngành của các địa phương trong vùng, các Hiệp hội, các doanh nghiệp, các chủ đầu tư, tổ chức và định chế tài chính, quỹ đầu tư, nhà đầu tư trên địa bàn TP HCM và khu vực phía Nam.

Năm 2026, trên đà tăng trưởng cao của 2025, nền kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi và hội nhập sâu rộng, với mục tiêu chiến lược đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hai con số trong giai đoạn 2026-2030, hướng tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 như Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. Tuy nhiên, bối cảnh vĩ mô toàn cầu đang có biến động phức tạp: xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát, nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng đặt ra những thách thức cấp bách.
Trong nước, với tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đặt mục tiêu 15%, thanh khoản hệ thống ngân hàng còn áp lực sau năm mở rộng dư nợ, chênh lệch lãi suất USD-VND..., theo đó việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn nhiều rào cản với mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng cao. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9/2026 mang đến những kỳ vọng lớn, song xu hướng vốn ngoại rút ròng vẫn kìm hãm các kế hoạch huy động vốn và chào bán cổ phần ra công chúng của doanh nghiệp; đồng thời thách thức mục tiêu đưa vốn hóa thị trường đạt 100% GDP trong năm 2026. Ở kênh trái phiếu doanh nghiệp, dù niềm tin nhà đầu tư đã dần phục hồi nhờ các biện pháp siết chặt kỷ luật thị trường, nhưng áp lực đáo hạn trên 200.000 tỷ đồng trong năm 2026 cũng đặt ra bài toán thanh khoản lớn, có thể hạn chế cơ hội phát hành mới với các tổ chức phát hành.
Ngay trong bối cảnh đó, năm 2026 cũng chứng kiến một bước chuyển chiến lược quan trọng khi Việt Nam chính thức khởi động xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại Đà Nẵng theo chủ trương của Bộ Chính trị, kỳ vọng sẽ là điểm đến phân phối dòng vốn của Việt Nam và khu vực. Song đến nay vẫn đang chờ các quy chế để có thể đi vào giải ngân...

Nhận diện sức khoẻ của doanh nghiệp, sức bật của nền kinh tế
Phát biểu tại Diễn đàn, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng cho biết, theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2026-2030, Việt Nam phải bứt tốc mạnh mẽ để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nền tảng kinh tế số, kinh tế xanh và tuần hoàn. Đây không chỉ là khát vọng tăng trưởng trong 1 năm hay 5 năm, mà là mệnh lệnh phát triển của cả quốc gia trong thập kỷ mới.
Để hiện thực hóa khát vọng lớn lao này, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng cho rằng, cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân đã và đang khẳng định những đóng góp lớn từ vị thế vững chắc của mình. Doanh nghiệp tư nhân không chỉ đóng góp phần lớn vào GDP, tạo ra hàng triệu việc làm, mà nay đã vươn lên trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, dẫn dắt nhiều chuỗi cung ứng và định hình năng lực cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.
“Các cơ quan quản lý đang nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, với mục tiêu cao nhất là bảo vệ quyền lợi hợp pháp và tạo không gian phát triển rộng mở nhất cho doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân”, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng đánh giá.
Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng cũng nhấn mạnh rằng, 2026-2030 là giai đoạn chúng ta tăng tốc trong đầu tư, hoàn thiện bệ phóng cho nền kinh tế. Để đầu tư cho các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu và hạ tầng bền vững tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu vĩ mô của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), ước tính nhu cầu vốn đầu tư là khoảng 15-17 tỷ USD mỗi năm. Trong đó, ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng được khoảng 30 - 35% nhu cầu này. Các nhà nghiên cứu vĩ mô của World Bank cũng chỉ ra nguồn lực cho mục tiêu đầu tư này, cần đồng thời tăng cường huy động sự tham gia của khu vực tư nhân.
Bên cạnh nhu cầu vốn hạ tầng, ông cho rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ tại Việt Nam cũng đang đối diện khoảng trống tín dụng lớn, với khoảng thiếu hụt tài chính hàng năm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới hàng tỷ USD và một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp có nhu cầu chưa được đáp ứng.

“Việc tìm ra lời giải cho bài toán đầy thách thức, tháo gỡ điểm nghẽn vốn, đây không chỉ là tiếp động lực cho từng doanh nghiệp, mà là đòn bẩy cho cả nền kinh tế trong giai đoạn 2026-2030. Đó chính là lý do VCCI quyết định chỉ đạo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức Diễn đàn "Khơi thông nguồn vốn, kết nối đa kênh”, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng cho biết.
“VCCI cam kết sẽ luôn sát cánh cùng cộng đồng doanh nghiệp, tổng hợp những sáng kiến, kiến nghị thiết thực nhất từ Diễn đàn này để gửi tới Chính phủ, các Bộ ngành liên quan, nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, khơi thông mọi nguồn lực cho sự phát triển”, Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Quang Phòng nhấn mạnh thêm.

Ở góc độ Ngân hàng nhà nước, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước cho biết, năm 2025 và những tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn và bất định lớn. Đặc biệt, từ cuối tháng 2/2026, xung đột Trung Đông leo thang đã tạo ra cú sốc mới đối với kinh tế toàn cầu, làm gián đoạn chuỗi cung ứng năng lượng, đẩy giá dầu tăng mạnh và gia tăng đáng kể áp lực lạm phát toàn cầu.
Đưa ra khuyến nghị đối với cộng đồng doanh nghiệp, ông Lân cho rằng trong bối cảnh hiện nay, việc khơi thông dòng vốn cho nền kinh tế cần được thực hiện đồng bộ, hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng với yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, NHNN nhận thấy:
Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin, cơ cấu lại dòng tiền và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Doanh nghiệp cần sử dụng vốn tín dụng đúng mục đích, tập trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng thực chất, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, hợp tác công – tư và các hình thức huy động vốn trung dài hạn khác. Việc phát triển cân bằng giữa tín dụng ngân hàng và các kênh dẫn vốn khác không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng chống chịu tài chính mà còn góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và tăng tính bền vững của nền kinh tế.
Thứ ba, trong bối cảnh thị trường quốc tế biến động mạnh, doanh nghiệp cần đặc biệt thận trọng với các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ, rủi ro cao hoặc phụ thuộc quá lớn vào biến động ngắn hạn của thị trường tài sản. Những diễn biến gần đây trên thị trường vàng, ngoại tệ, hàng hóa và tài sản tài chính quốc tế cho thấy tâm lý đầu cơ có thể làm gia tăng rủi ro tài chính và ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô. Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng không đúng mục đích có thể làm gia tăng nợ xấu, truyền dẫn rủi ro từ doanh nghiệp sang hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro có tính hệ thống, có thể gây ra những hệ lụy rất khó khắc phục.
Thứ tư, doanh nghiệp không nên quá bi quan hoặc phản ứng nóng vội trước các biến động ngắn hạn của kinh tế thế giới. Việt Nam có nhiều nền tảng tích cực như ổn định chính trị – xã hội, độ mở thương mại cao, khả năng thu hút FDI tốt, lực lượng lao động dồi dào và vị thế ngày càng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là những yếu tố quan trọng để nền kinh tế duy trì khả năng chống chịu, phục hồi, tiếp tục tăng trưởng tích cực trong trung và dài hạn.
Về phía ngành ngân hàng, ông Lân cho biết, NHNN cùng hệ thống các TCTD sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng và phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định thị trường tiền tệ – ngoại hối và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý.
Theo ông, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo hệ thống các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng công nghệ để giảm chi phí vốn, qua đó phấn đấu duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng.
Cùng với đó, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ; đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Công tác điều hành tỷ giá sẽ được thực hiện linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế nhằm góp phần hấp thụ các cú sốc bên ngoài, ổn định tâm lý thị trường và hỗ trợ kiểm soát lạm phát.
“Ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương trong triển khai các chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn, thúc đẩy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và khơi thông hiệu quả các dòng vốn phục vụ tăng trưởng. Hay nói một cách khác, ngành Ngân hàng luôn và tiếp tục đồng hành doanh nghiệp trong quá trình phát triển”, ông Lân nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, PGS TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh, khẳng định mục tiêu duy trì mức tăng trưởng hai con số từ nay đến năm 2045 là một thách thức lớn. Để hiện thực hóa con số này, nhu cầu nguồn vốn trong giai đoạn 20 năm tới sẽ rất cao. Hiện tại, hệ thống ngân hàng nội địa đang gánh vác phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, dẫn đến tỷ lệ tín dụng trên GDP ở mức đáng báo động. Ông Huân dẫn chứng cảnh báo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) về những rủi ro tiềm ẩn khi nền kinh tế quá phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng.
Trước thực trạng đó, việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn trở thành yêu cầu cấp thiết. Ông Nguyễn Hữu Huân xác định hai trụ cột chính để giảm tải cho hệ thống ngân hàng là thị trường vốn và Trung tâm Tài chính quốc tế (VIFC). VIFC được kỳ vọng sẽ trở thành cửa ngõ thu hút dòng vốn quốc tế, tạo ra một hệ sinh thái tài chính đa tầng thay vì chỉ dựa vào các công cụ truyền thống.
Sự lạc quan về dự án này được củng cố bởi thứ hạng trên bảng xếp hạng các trung tâm tài chính quốc tế toàn cầu (GFCI). Ông Nguyễn Hữu Huân cho biết, trong năm nay, TP HCM đã tăng 11 bậc, đạt vị trí thứ 84 trong tổng số 121 trung tâm được xếp hạng. Tại khu vực Đông Nam Á, TP HCM đã vượt qua Bangkok và Jakarta để trở thành trung tâm tài chính xếp thứ ba, hiện chỉ đứng sau Kuala Lumpur và Singapore. Đây là kết quả khích lệ cho việc định vị vai trò của trung tâm trong việc huy động vốn dài hạn.
Về cấu trúc tổ chức, VIFC vận hành theo mô hình “một trung tâm, hai điểm đến” tại TP HCM và Đà Nẵng, dưới sự điều hành của Hội đồng do Phó Thủ tướng đứng đầu. Tại TP HCM, trung tâm có diện tích 898 ha, bao gồm một phần phường Đa Kao, phường Bến Thành và toàn bộ khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Ông Nguyễn Hữu Huân tiết lộ kế hoạch xây dựng tòa tháp biểu tượng IFC Tower cao 99 tầng. Dự án này đã thu hút sự quan tâm của hai đối tác đầu tư và dự kiến sẽ khởi công ngay trong năm nay để trở thành tòa nhà cao nhất khu vực tại thời điểm hoàn thành. Bên cạnh đó là các khu phức hợp văn phòng, khách sạn sáu sao và tổ hợp bến du thuyền, trung tâm triển lãm quốc tế nhằm phục vụ các tập đoàn tài chính đa quốc gia.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Hữu Huân nhấn mạnh rằng hạ tầng công nghệ mới là yếu tố tạo nên sự khác biệt. VIFC đang xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại theo định hướng “đi tắt đón đầu”. Ông Huân phân tích rằng các trung tâm tài chính truyền thống đang bị mắc kẹt với hệ thống công nghệ cũ, tốn nhiều chi phí để thay đổi. Ngược lại, Việt Nam có lợi thế của người đi sau khi xây dựng mới hoàn toàn trên nền tảng Blockchain và Trí tuệ nhân tạo (AI).
Một trong bốn trụ cột chính của VIFC là Trung tâm tài chính hàng hải quốc tế. Ông Nguyễn Hữu Huân cung cấp một con số đáng chú ý: 80% đến 90% giao dịch tài chính của các cụm cảng lớn tại Việt Nam hiện đang thực hiện tại Singapore và Hồng Kông. Tổng lượng giao dịch này ước tính lên đến hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.
Việc dòng vốn khổng lồ này chảy ra nước ngoài xuất phát từ hai rào cản chính là kiểm soát ngoại hối và hệ thống pháp lý xử lý tranh chấp. Để giải quyết nút thắt này, ông Nguyễn Hữu Huân cho biết VIFC sẽ áp dụng một khung pháp lý riêng biệt. Trung tâm sẽ có tòa án quốc tế và trung tâm trọng tài riêng, ưu tiên sử dụng Thông luật (Common Law) của Anh để xử lý tranh chấp theo chuẩn mực toàn cầu. Đồng thời, dòng vốn trong phạm vi VIFC sẽ được luân chuyển tự do hơn so với phần còn lại của lãnh thổ.
Mục tiêu của chiến lược này là thu hút khoảng 30% lượng giao dịch tài chính hàng hải hiện tại về Việt Nam, tương đương 300 tỷ USD mỗi năm. Các dịch vụ như cho thuê tài chính, bảo hiểm hàng hải, tái bảo hiểm và thanh toán xuyên biên giới sẽ được tập trung phát triển để gia tăng giá trị cho chuỗi cung ứng. Ông Huân thông tin thêm rằng hệ sinh thái tài chính hàng hải đã thu hút được 6,1 tỷ USD vốn cam kết từ đợt xúc tiến tại Singapore vào tháng 2 vừa qua.

Ông Tuấn nhấn mạnh, nền kinh tế Việt Nam kết thúc năm 2025 với mức tăng trưởng 8,02%, dựa trên quy mô vốn đầu tư xã hội chiếm 32,3% GDP. Mục tiêu tăng trưởng cho 5 năm tới đã được đẩy lên mức 10%. Ông lưu ý đây là con số tăng trưởng theo giá cố định. Nếu tính cả yếu tố lạm phát dự kiến 4,5% mỗi năm, mức tăng trưởng theo giá hiện hành phải đạt 14,95%.
TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho biết, 4 tháng đầu năm 2026, lạm phát đã chạm mức 5,46% so với cùng kỳ. Áp lực lạm phát hiện hữu từ cả hai phía: tổng cầu tăng cao do mục tiêu tăng trưởng và chi phí đẩy từ giá năng lượng cùng căng thẳng địa chính trị. Do đó, ông tính toán nền kinh tế cần tới 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư nếu giả định lạm phát ở mức 4,5%.
Tuy vậy, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn chỉ ra là năng suất biên của vốn đang có xu hướng giảm dần. Điều này đồng nghĩa với việc để tạo ra thêm một đồng tăng trưởng, nền kinh tế phải đổ vào nhiều vốn hơn so với giai đoạn trước. Hiện tại, hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam đang nằm trong khoảng 5 đến 6, mức được đánh giá là kém hiệu quả.
Chính phủ đang nỗ lực đưa hệ số ICOR về mức 4,5 đến 4,8 trong giai đoạn tới theo Nghị quyết 25/2026/QH16 của Quốc hội. Thậm chí, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhắc lại yêu cầu của Tổng Bí thư về việc phải đưa chỉ số này về mức 4. Tuy nhiên, ông đánh giá việc kéo giảm ICOR từ mức 6 về 4 là một thách thức rất khó khăn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, Việt Nam đang thực hiện đồng thời hai giải pháp: vừa nâng tỷ trọng vốn đầu tư xã hội từ 32,3% lên tối thiểu 40% GDP, vừa nỗ lực cải thiện hiệu quả sử dụng số vốn đó.
Theo ông, trong tổng số 40 triệu tỷ đồng vốn cần huy động, cơ cấu nguồn vốn sẽ phải thay đổi mạnh mẽ theo định hướng giảm dần sự hiện diện của đầu tư công. Hiện tại, khu vực kinh tế nhà nước đang chiếm 26-27% tổng vốn đầu tư xã hội. Mục tiêu trong 5 năm tới là kéo tỷ lệ này xuống còn 20-22%. Khoảng trống 5-6% này buộc phải được lấp đầy bởi khu vực FDI hoặc kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, kênh FDI đang gặp khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực như Singapore và Indonesia trong làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng. TS Đỗ Thiên Anh Tuấn lưu ý rằng tỷ trọng vốn FDI chỉ duy trì ở mức bình quân 16,3% trong 5 năm qua và rất khó để nâng cao hơn nữa. Năm 2025, dù vốn đăng ký đạt 38 tỷ USD nhưng giải ngân thực tế chỉ khoảng 21 tỷ USD.
"Kinh tế tư nhân phải trở thành động lực quan trọng nhất. Mục tiêu đặt ra là khu vực này phải đóng góp 60% tổng vốn đầu tư xã hội, tương xứng với tỷ trọng 60% trong cơ cấu GDP mà Nghị quyết Trung ương đã đề ra", TS Đỗ Thiên Anh Tuấn khẳng định.
Nâng tầm doanh nghiệp: tối ưu hoá đa kênh, kết nối thị trường vốn

Điều phối phiên thảo luận, Nhà báo Phạm Hùng – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp khẳng định: với bức tranh lớn và các thông tin chất lượng về bối cảnh vĩ mô, tầm nhìn tăng trưởng, bức tranh nguồn vốn của hệ thống tín dụng, thực tế tiếp cận vốn của doanh nghiệp cũng như cơ hội, triển vọng điểm đến dòng vốn quan trọng của trong tương lai.

Phát biểu đề dẫn trong phiên thảo luận tại Diễn đàn, ông Trần Hoài Phương - Giám đốc Ngân hàng Doanh nghiệp - NHTMCP Phát triển TP HCM (HDBank) cho biết, trong hoạt động tài chính, sự tin tưởng giữa ngân hàng và doanh nghiệp phải dựa trên những nền tảng dữ liệu trung thực.
Theo ông Trần Hoài Phương , với hơn 30 năm kinh nghiệm trong ngành ngân hàng, việc các bên phải nói hết với nhau về các góc độ kinh doanh và tình hình tài chính là yếu tố sống còn. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam cho thấy một khoảng cách lớn giữa hồ sơ trên giấy tờ và thực lực tài chính của đơn vị đi vay.
Ông Trần Hoài Phương nhấn mạnh rằng việc sở hữu một báo cáo tài chính có kiểm toán mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải là đủ để xây dựng niềm tin với các định chế tài chính. Trong giới ngân hàng, thành ngữ “chúng tôi có báo cáo kiểm toán” thường được tiếp nhận với sự dè dặt nhất định.
Một câu hỏi cốt lõi mà ông Trần Hoài Phương đặt ra là liệu các số liệu trong đó có đủ trung thực và cấu trúc tài chính có đủ an toàn để ngân hàng mạo hiểm dùng tiền huy động từ dân cư để cho vay hay không? Trong khi các mô hình quản trị rủi ro khắt khe trên thế giới đôi khi chỉ chấp nhận cho vay 50% nhu cầu vốn, thì tại Việt Nam, các doanh nghiệp thường yêu cầu mức tài trợ lên tới 70% hoặc 75%.
"Điều này cho thấy rủi ro mà các ngân hàng nội địa đang gánh chịu là rất lớn. Khi ngân hàng bỏ tiền vào một doanh nghiệp, đó là một quyết định rủi ro và đòi hỏi sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc. Một ngân hàng hiện đại, có nghề sẽ không chỉ nhìn vào tài sản đảm bảo, bởi việc thanh lý tài sản để thu hồi vốn khi xảy ra sự cố thường rất khó khăn và không đảm bảo lợi ích ban đầu", ông Trần Hoài Phương phân tích.
Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp mới là cơ sở quan trọng nhất để ngân hàng giảm bớt sự phụ thuộc vào tài sản đảm bảo. Theo ông Trần Hoài Phương, đòn bẩy công nợ quá cao là một dấu hiệu nguy hiểm. Ông lập luận rằng trong một mối quan hệ vay vốn, không thể có chuyện doanh nghiệp mất một nhưng ngân hàng lại mất bốn; điều này hoàn toàn phi logic về mặt quản trị rủi ro. Tỷ lệ đòn bẩy phải được duy trì ở mức hợp lý tùy theo đặc thù từng ngành nghề kinh doanh.
Một vấn đề khác được ông Trần Hoài Phương chỉ ra là tình trạng mất cân đối tài chính khi dùng vốn ngắn hạn cho các mục đích dài hạn. Các tài sản dài hạn hoặc tài sản cố định bắt buộc phải được che phủ bởi vốn chủ sở hữu hoặc các khoản vay trung và dài hạn. Việc một doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn để mua máy móc phục vụ sản xuất là một sai lầm về mặt cấu trúc, vì máy móc không phải thứ để bán đi trả nợ sau 6 tháng. Ông Trần Hoài Phương coi việc tuân thủ nguyên tắc cân đối vốn này như một loại “tôn giáo” trong quản trị tài chính doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện qua vòng quay vốn cũng là thước đo sự khác biệt giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vòng quay vốn nhanh hơn sẽ có khả năng chống chịu rủi ro tốt hơn. Trong ngành nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, trước đây vòng quay vốn thường kéo dài tới 9 tháng. Hiện nay, các doanh nghiệp đã phải thay đổi cấu trúc bằng cách kết hợp nguồn nguyên liệu trong nước và nhập khẩu để kéo dòng vốn dài hơn và tối ưu hóa hiệu quả.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, ông Trần Hoài Phương cho biết, sự thiếu hụt kiến thức về các phương thức thanh toán quốc tế đang gây ra những thiệt hại đau lòng cho doanh nghiệp Việt. Ông cũng quan ngại trước tình trạng các nhà xuất khẩu quá tin tưởng vào đối tác lâu năm mà bỏ qua các quy tắc bảo vệ tài chính. Thực tế, một đối tác tốt trong 10 năm trước có thể vừa gặp tai nạn tài chính mà doanh nghiệp Việt không hề hay biết.
"Các doanh nghiệp nên tận dụng mạng lưới liên kết của ngân hàng để kiểm tra năng lực tài chính của đối tác nước ngoài. Các ngân hàng hoàn toàn có khả năng điều tra hoặc phối hợp với các ngân hàng quốc tế khác để cung cấp cái nhìn khách quan về người mua hàng, thường là không thu phí hoặc phí rất thấp”, ông Trần Hoài Phương khuyến nghị.

Ở góc nhìn cơ quan quản lý tài chính tại địa phương, bà Nguyễn Thị Minh Vân - Phó Giám đốc Sở Tài chính TP HCM đã phác thảo một lộ trình tài chính đầy tham vọng nhưng cũng đầy áp lực nhằm duy trì vị thế đầu tàu kinh tế của cả nước. Theo bà Vân, trong điều kiện diện tích đất tăng gấp 3,2 lần sau sáp nhập và quy mô dân số chạm ngưỡng 14 triệu người, Thành phố đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi toàn diện phương thức huy động và phân bổ nguồn lực.
Bà Nguyễn Thị Minh Vân cho biết, Thành phố đặt mục tiêu huy động vốn đầu tư toàn xã hội đạt mức 30% GRDP, tương đương khoảng 1,18 triệu tỷ đồng trong năm 2026. Đây là con số cần thiết để hiện thực hóa Kế hoạch số 44/KH-UBND ngày 02 tháng 2 năm 2026 của UBND Thành phố về việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Số liệu 4 tháng đầu năm 2026 cho thấy những tín hiệu tích cực về sức sống của khu vực tư nhân. Bà Nguyễn Thị Minh Vân cung cấp dữ liệu về 19.818 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 35% so với cùng kỳ. Tổng số vốn đăng ký mới và bổ sung đạt khoảng 392.000 tỷ đồng, tăng 24%. Đặc biệt, dòng vốn FDI ghi nhận sự bùng nổ khi thu hút gần 3,3 tỷ USD, tăng hơn 107% so với cùng kỳ năm 2025.
Một trong những trọng tâm được bà Nguyễn Thị Minh Vân nhấn mạnh là việc hiện thực hóa các cơ chế đặc thù từ Nghị quyết 98/2023/QH15. Thành phố đang triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất thông qua Công ty đầu tư tài chính Nhà nước (HFIC) cho các lĩnh vực ưu tiên. Bà Nguyễn Thị Minh Vân khẳng định đây là bước đi cụ thể nhằm ưu tiên nguồn tín dụng cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Thực tế cho thấy chi phí tài chính vẫn là rào cản lớn đối với các dự án đầu tư chiều sâu. Bà Nguyễn Thị Minh Vân nhận định rằng ngân sách Thành phố chấp nhận chia sẻ rủi ro và gánh nặng lãi suất sẽ giúp doanh nghiệp tự tin thay thế các dây chuyền lạc hậu. Tính đến nay, 14 dự án với tổng mức đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng đã được phê duyệt tham gia chính sách này, trong đó số vốn vay được hỗ trợ lãi suất đạt hơn 1.100 tỷ đồng.
Bên cạnh kênh tín dụng truyền thống, bà Vân cũng cho biết, Thành phố đã chính thức phê duyệt đề án thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm với tầm nhìn quy mô 5.000 tỷ đồng vào năm 2035. Quỹ sẽ tập trung vào các công nghệ lõi chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), vi mạch bán dẫn và năng lượng tái tạo. Mục tiêu của quỹ là đầu tư vào 50 đến 150 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, biến Thành phố thành “thỏi nam châm” thu hút dòng vốn ngoại. Đây là chiến lược nhằm đưa tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GRDP.
"Để giải quyết bài toán hạ tầng, thành phố đang đẩy mạnh các dự án trọng điểm mang tính kết nối vùng với nguồn ngân sách dự kiến cho giai đoạn 2026-2030 lên tới 345.000 tỷ đồng, tương đương 13 tỷ USD. Các dự án tiêu biểu có thể kể đến như cao tốc TPHCM – Mộc Bài và tuyến vành đai 2", bà Nguyễn Thị Minh Vân chia sẻ.
Tuy nhiên, bà cho rằng, ngân sách công không thể gánh vác toàn bộ nhu cầu vốn khổng lồ này. Việc tối ưu hóa phương thức đối tác công tư (PPP) trong các lĩnh vực mới như y tế và thể thao. Sở Tài chính đang tích cực hoàn thiện các khung pháp lý và bộ sổ tay hướng dẫn quy trình đầu tư PPP để khơi thông nguồn lực xã hội.
Song song với hạ tầng vật thể, Thành phố đang định hình một “hành lang pháp lý mạnh mẽ” thông qua việc phối hợp xây dựng Luật Đô thị đặc biệt. Bà Vân kỳ vọng đây sẽ là nền tảng hình thành mô hình quản trị siêu đô thị, giúp thành phố chủ động hơn trong phân bổ nguồn lực và tạo cơ chế sử dụng đất đai linh hoạt. Đồng thời, đề án Trung tâm tài chính quốc tế và Khu thương mại tự do gắn với cảng biển Cái Mép Hạ đang được khẩn trương triển khai để mở rộng kênh dẫn vốn quốc tế.
Cải cách hành chính được xác định là giải pháp phi tài chính hiệu quả nhất để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Bà Nguyễn Thị Minh Vân cam kết cắt giảm 40% thời gian giải quyết đối với các thủ tục. Thời gian xử lý ý kiến thẩm định của các sở ngành cũng được rút ngắn từ 15 ngày xuống còn 10 ngày.
"Thành phố đang rà soát quy chế phối hợp để thống nhất quy trình xử lý thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án có sử dụng đất, mục tiêu rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng xuống tối đa còn 15 ngày. Việc chuyển hướng sang quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm và đẩy mạnh số hóa quy trình được kỳ vọng sẽ xóa bỏ những nút thắt cục bộ trong bộ máy hành chính”, bà Nguyễn Thị Minh Vân nói.

Theo ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Bất động sản TP HCM, thị trường bất động sản đang đối mặt với sự đứt gãy niềm tin nghiêm trọng do những rào cản về thể chế pháp luật kéo dài.
Tại TP HCM, quá trình tháo gỡ vướng mắc đang được thực hiện quyết liệt thông qua Tổ công tác đặc biệt do Chủ tịch UBND Thành phố làm Tổ trưởng. Ông Lê Hoàng Châu thông tin, Sở Tài chính đã tổng hợp danh sách 838 dự án và cơ sở nhà đất cần xử lý. Hiệp hội Bất động sản TPHCM (HoREA) đã khảo sát và báo cáo bổ sung 112 dự án qua năm đợt báo cáo khẩn cấp, nâng tổng số dự án và khu đất cần tháo gỡ trên địa bàn lên 950 đơn vị.
Ông Lê Hoàng Châu cung cấp số liệu bóc tách trong danh sách 838 dự án của Sở Tài chính: có 265 dự án thuộc doanh nghiệp tư nhân, 13 dự án theo hình thức PPP và 28 dự án của doanh nghiệp nhà nước. Trên phạm vi cả nước, 4.500 dự án đang vướng mắc pháp lý. Ông Lê Hoàng Châu xác nhận tổng mức đầu tư của khối dự án này lên tới hơn 2,5 triệu tỷ đồng, chiếm diện tích hơn 2 triệu ha đất.
Về nguồn vốn, ông Lê Hoàng Châu bày tỏ sự lo ngại trước kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2026. Ngân hàng Nhà nước dự kiến hạn mức (trần) tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, tương đương việc bơm thêm 2 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế. Ông Lê Hoàng Châu nhấn mạnh con số này thấp hơn khoảng 200.000 tỷ đồng so với lượng vốn được bơm ra trong năm 2025 (khi mức tăng trưởng đạt 19,1%).
Tuy Ngân hàng Nhà nước thông báo lãi suất cho vay giảm khoảng 0,5%, nhưng ông Châu rằng thực tế doanh nghiệp vẫn phải vay với lãi suất cao hơn nhiều. Ông Lê Hoàng Châu đề nghị Nhà nước xem xét điều chỉnh trần tín dụng linh hoạt hơn để tạo điều kiện cho thị trường phục hồi.
Tuy vậy, ông Châu cho rằng, doanh nghiệp bất động sản không thể và không nên chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng. Ông Lê Hoàng Châu liệt kê các nguồn vốn thiết yếu:
Thứ nhất là vốn chủ sở hữu và vốn đối tác. Đây là nguồn vốn bắt buộc để tạo quỹ đất, vì ngân hàng không cho vay để mua đất.
Thứ hai là tín dụng ngân hàng, đóng vai trò “bà đỡ”, tài trợ khoảng 50% tổng mức đầu tư xây dựng sau khi dự án đã có quỹ đất sạch.
Thứ 3 là trái phiếu doanh nghiệp, đang phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng 2022-2025, với các cơ chế khoan hồng từ Nghị quyết 29 cho phép 3-5 năm để khắc phục sai sót.
Thứ tư là vốn từ khách hàng, kênh huy động không chịu lãi suất sau khi dự án đủ điều kiện bán hàng.
Thứ năm là vốn từ thị trường chứng khoán, hiện chỉ có 69 doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên tổng số 1.609 doanh nghiệp đại chúng, quá nhỏ so với cộng đồng 50.000 doanh nghiệp địa ốc cả nước.
Thứ sáu là quỹ đầu tư và REIT và thứ bảy là nguồn vốn trong dân. Đây là nguồn lực lớn nhưng chưa có giải pháp huy động hiệu quả vào nền kinh tế.

Phản hồi ông Lê Hoàng Châu, ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê, Ổn định Tiền tệ tài chính Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho biết, đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, Ngân hàng Nhà nước luôn luôn tạo cơ chế để cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Tốc độ tăng của vốn bất động sản luôn cao hơn tốc độ tăng tín dụng toàn ngành. Điều đó phản ánh dòng vốn đang chảy vào bất động sản với tỷ lệ cao.
Tuy nhiên, ưu tiên quá mức cho một ngành nghề lĩnh vực (ví dụ bất động sản) thì các ngành nghề khác sẽ rất khó tiếp cận. Trong khi đó, phần chiếm ưu thế về số lượng doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, nếu họ không tiếp cận được nguồn vốn thì buộc cơ quan quản lý phải điều tiết việc tiếp cận nguồn vốn cho phù hợp. “Ngân hàng Nhà nước hiện nay cũng đang tiến hành đánh giá, rà soát và phân loại để xem xét tác động như thế nào cho phù hợp, từ đó điều chỉnh cơ chế chính sách”, ông Nguyễn Phi Lân cho biết.
Ông Phan Minh Thông - Chủ tịch Tập đoàn Phúc Sinh GroupÔng Phan Minh Thông, Chủ tịch Hội đồng quản trị Phúc Sinh Group cho biết: Việt Nam đang đứng trong tốp 3 hàng đầu thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực như tiêu, cà phê, gạo, hạt điều và thủy sản. Tuy nhiên, một nghịch lý tồn tại dai dẳng là các nhà xuất khẩu trong nước vẫn phải nhìn vào bảng điện tử của New York, London hay thậm chí là Ấn Độ để định giá cho chính sản phẩm mình làm ra.
Ông Phan Minh Thông đưa ra những con số minh chứng cho quy mô khổng lồ của nông sản Việt: xuất khẩu cà phê mỗi năm đạt từ 1,5 triệu đến 1,9 triệu tấn. Đặc biệt, hạt tiêu Việt Nam chiếm tới 50% đến 60% sản lượng toàn cầu. Với vị thế này, lẽ ra Việt Nam phải là trung tâm điều phối giá cả thế giới nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.
Ông Phan Minh Thông cho biết, mỗi khi cần định giá hay thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro (Hedging), doanh nghiệp Việt buộc phải in bảng giá từ sàn London hoặc New York để làm cơ sở giao dịch với ngân hàng. Thậm chí, với mặt hàng tiêu mà Việt Nam áp đảo hoàn toàn về nguồn cung, các doanh nghiệp vẫn phải theo dõi sàn giao dịch của Ấn Độ, một quốc gia có sản lượng sản xuất vô cùng nhỏ bé so với Việt Nam. Ông Phan Minh Thông đánh giá đây là một sự “lãng phí vô cùng” và là sự thất bại trong việc kiểm soát quyền tự chủ kinh tế.
Việc thiếu vắng một sàn giao dịch nội địa đủ uy tín khiến dòng tiền từ các giao dịch hàng hóa chảy ra nước ngoài. Ông Phan Minh Thông nhận định, nếu có sàn giao dịch, người nông dân và doanh nghiệp sẽ chủ động biết được cung cầu, sản lượng để đảm bảo giá cả trong suốt mùa vụ. Điều này giúp ổn định thị trường nông sản nội địa và chiếm ưu thế trong xuất khẩu. Khi người mua và người bán khắp thế giới muốn giao dịch nông sản Việt Nam, họ buộc phải mở tài khoản tại Việt Nam, từ đó thu hút dòng vốn quốc tế về cho nền kinh tế trong nước.
Từ những phân tích của ông Phan Minh Thông, có thể thấy Việt Nam đang lãng phí một quyền năng kinh tế rất lớn khi chưa có sàn giao dịch hàng hóa đúng nghĩa. Việt Nam đang đầu tư mạnh vào sản xuất và chế biến sâu, nhưng lại bỏ trống trận địa quyền lực nhất là định giá và kiểm soát dòng tiền.
Việc thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế là cơ hội để tích hợp các sàn giao dịch nông sản vào hệ thống, biến nông sản thành những sản phẩm tài chính có tính thanh khoản cao. “Khi có được những công cụ tài chính sắc bén và một hành lang pháp lý công bằng, nông sản Việt mới có thể thoát khỏi cảnh “làm thuê” cho các bảng định giá của nước ngoài”, ông Phan Minh Thông nhận định.
Bấm F5 để tiếp tục cập nhập...