Kiến nghị
Cần bảo vệ dữ liệu doanh nghiệp và tránh cơ chế “xin – cho”
Theo VCCI, cần tiếp tục hoàn thiện quy định liên quan đến cơ chế bảo mật, chia sẻ dữ liệu và khai thác thông tin về hoạt động truy xuất nguồn gốc hàng hoá tránh phát sinh rủi ro cho doanh nghiệp.
Góp ý Dự thảo Nghị định quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá (Dự thảo), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng cần đặc biệt lưu ý vấn đề bảo mật dữ liệu và bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp.

Theo VCCI, Dự thảo đang yêu cầu thu thập, kết nối và chia sẻ khối lượng lớn dữ liệu liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong đó có nhiều thông tin mang giá trị thương mại cao như chuỗi cung ứng, mạng lưới phân phối, lịch sử lưu thông hàng hóa, logistics hay đối tác thương mại.
“Đây không chỉ là dữ liệu phục vụ quản trị nội bộ mà còn là yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”, VCCI nêu quan điểm.
Do đó, nếu cơ chế truy cập và công khai dữ liệu không được giới hạn hợp lý, nguy cơ lộ bí mật kinh doanh và sử dụng dữ liệu sai mục đích là rất lớn.
Cụ thể, Điều 14 quy định về ứng dụng quốc gia và công cụ tra cứu thông tin phục vụ định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, người dùng có thể tra cứu, tiếp cận các thông tin liên quan đến sản phẩm, hàng hóa được cập nhật trên hệ thống ứng dụng quốc gia về định danh. Việc xây dựng công cụ tra cứu thông tin sản phẩm là cần thiết nhằm tăng cường tính minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế giới hạn phù hợp, việc công khai dữ liệu có thể vượt quá nhu cầu cần thiết và làm lộ các thông tin nhạy cảm của doanh nghiệp.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, trong thực tế, các dữ liệu liên quan đến chuỗi cung ứng, mạng lưới phân phối, đối tác thương mại hay hoạt động logistics đều là những yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh và trong nhiều trường hợp được doanh nghiệp coi là bí mật kinh doanh. Việc công khai các thông tin này không chỉ không cần thiết cho mục tiêu nhận diện sản phẩm mà còn có thể gây thiệt hại trực tiếp cho doanh nghiệp.
Vì vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo thiết kế quy định theo hướng phân định rõ ràng giữa dữ liệu phục vụ người tiêu dùng và dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước, từ đó giới hạn phạm vi công khai ở mức tối thiểu cần thiết. quy định rõ phạm vi thông tin được công khai trên ứng dụng quốc gia chỉ bao gồm các thông tin cần thiết phục vụ người tiêu dùng, ví dụ: như nguồn gốc, xuất xứ, thông tin chất lượng, tình trạng hợp lệ của sản phẩm và cảnh báo liên quan (nếu có).
Liên quan đến quy định khai thác và chia sẻ dữ liệu tại Điều 27 và Điều 29, VCCI cho rằng Dự thảo vẫn chưa làm rõ tiêu chí cấp quyền truy cập dữ liệu cũng như phạm vi chủ thể được tiếp cận.

Theo Dự thảo, tổ chức, cá nhân muốn khai thác dữ liệu phải gửi Phiếu đề nghị cấp quyền và chờ Trung tâm dữ liệu quốc gia xem xét trong thời hạn 7 ngày làm việc.
Theo VCCI, quy định này về bản chất đã mang đầy đủ dấu hiệu của một thủ tục hành chính. Tuy nhiên, hồ sơ giải trình chính sách lại cho rằng Dự thảo không phát sinh thủ tục hành chính mới, dẫn đến thiếu thống nhất. Đáng chú ý, nếu mọi trường hợp khai thác dữ liệu đều phải thông qua cơ chế xét duyệt thủ công, nguy cơ phát sinh cơ chế “xin – cho”, kéo dài thời gian xử lý và làm giảm hiệu quả vận hành của nền tảng số là rất lớn.
Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại Điều 29 và hồ sơ Tờ trình để thống nhất về bản chất pháp lý của quy định này. Nếu đây là thủ tục hành chính, cần đánh giá tác động, công khai thành phần hồ sơ, tiêu chí xử lý, cơ quan giải quyết, kết quả, thời hạn và phương thức thực hiện theo đúng yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính.
Về nội dung, nên thiết kế cơ chế khai thác dữ liệu theo hướng phân tầng: dữ liệu công khai được truy cập trực tiếp; dữ liệu của chính chủ thể đã kê khai được truy cập theo tài khoản định danh; dữ liệu hạn chế tiếp cận được phân quyền tự động theo vai trò; chỉ dữ liệu nhạy cảm, dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh hoặc dữ liệu cần kiểm soát đặc biệt mới áp dụng cơ chế phê duyệt thủ công.
Đối với quy định công khai hành vi vi phạm tại Điều 32, VCCI cho rằng việc công khai là cần thiết để tăng tính minh bạch và răn đe, song cần thiết kế thận trọng để tránh gây thiệt hại không tương xứng cho doanh nghiệp.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, thông tin công khai có thể ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương hiệu, quan hệ thương mại và niềm tin của đối tác. Trong trường hợp việc công khai được thực hiện khi chưa có kết luận cuối cùng hoặc khi doanh nghiệp vẫn đang khiếu nại, giải trình, hậu quả tiêu cực có thể lớn hơn mức cần thiết.
Vì vậy, VCCI đề nghị chỉ công khai hành vi vi phạm khi đã có quyết định xử lý có hiệu lực hoặc kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế cập nhật thông tin sau khi doanh nghiệp đã khắc phục vi phạm nhằm bảo đảm tính khách quan, đầy đủ và công bằng.