Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

“Tạm hoãn truy cứu” phải đi cùng cải cách pháp lý đồng bộ

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn 23/05/2026 04:30

Theo chuyên gia, cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với một số vi phạm kinh tế cần được luật hóa đồng bộ, đi kèm tiêu chí áp dụng chặt chẽ và minh bạch.

Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, nhiều ý kiến cho rằng việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tạo “không gian an toàn” cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết. Một trong những đề xuất đang thu hút sự quan tâm là cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với một số sai phạm kinh tế phát sinh trong quá trình triển khai hoạt động sản xuất – kinh doanh.

hoat-dong-tai-xuong-lap-rap-1-.jpg
Việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng tạo “không gian an toàn” cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo là yêu cầu cấp thiết.

Không ít doanh nghiệp hiện nay vẫn mang tâm lý e ngại khi triển khai mô hình mới, thử nghiệm cơ chế mới hoặc tham gia các lĩnh vực còn thiếu hành lang pháp lý rõ ràng. Nỗi lo rủi ro pháp lý, đặc biệt nguy cơ bị xử lý hình sự đối với các sai phạm mang tính hành chính hoặc phát sinh do cơ chế chưa hoàn thiện, được cho là một trong những lực cản khiến doanh nghiệp dè dặt trước các quyết định đầu tư, đổi mới.

Luật gia Dương Đình Khuyến, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Luật gia Việt Nam nhận định, việc nghiên cứu cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” thể hiện tư duy lập pháp mới, phù hợp với yêu cầu khuyến khích doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm vì mục tiêu phát triển.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là cơ chế này phải có cơ sở pháp lý rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành.

Theo ông Khuyến, khi cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án hoặc khởi tố bị can thì toàn bộ quá trình xử lý bắt buộc phải tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, nếu muốn áp dụng cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”, cần sửa đổi, bổ sung quy định ở cấp luật để tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho việc triển khai.

“Khi đã khởi tố hình sự thì mọi hoạt động đều phải tuân thủ trình tự tố tụng. Không thể chỉ nói tạm hoãn là tạm hoãn được, mà phải có căn cứ pháp lý rõ ràng”, ông Khuyến nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia, cơ chế này chỉ nên áp dụng đối với các hành vi vi phạm kinh tế có tính chất ít nghiêm trọng, không có yếu tố vụ lợi cá nhân, không liên quan tham nhũng, lợi ích nhóm và phát sinh trong quá trình triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, doanh nghiệp hoặc cá nhân vi phạm phải chủ động khắc phục hậu quả, hợp tác với cơ quan chức năng và không có dấu hiệu bỏ trốn hay tẩu tán tài sản.

Trong những trường hợp như vậy, cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét áp dụng các biện pháp như tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra có điều kiện để tạo cơ hội cho doanh nghiệp khắc phục sai phạm, ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh trước khi tiếp tục xem xét xử lý.

“Thông thường, cơ quan điều tra sẽ lựa chọn phương án tạm đình chỉ khi cần chờ thêm căn cứ hoặc phát sinh tình tiết mới cần xác minh. Nếu sau này phát hiện có dấu hiệu tham nhũng, vụ lợi hay cố ý làm trái thì việc phục hồi điều tra vẫn có thể được thực hiện”, ông Khuyến phân tích.

Theo ông, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 68 là tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển, đồng thời bảo vệ những người dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung. Do đó, việc nghiên cứu cơ chế “tạm hoãn truy cứu” cần được đặt trong tổng thể định hướng xây dựng môi trường pháp lý ổn định, giảm tâm lý sợ sai và khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất.

qt1_5692-1-.jpg
Theo chuyên gia, cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự” đối với một số vi phạm kinh tế cần được luật hóa đồng bộ, đi kèm tiêu chí áp dụng chặt chẽ và minh bạch.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy ranh giới giữa sai phạm kinh tế và hành vi vụ lợi, tham nhũng trong nhiều trường hợp là rất mong manh. Không ít vụ việc ban đầu được xem là sai phạm trong quản lý kinh tế, nhưng quá trình điều tra lại phát hiện dấu hiệu trục lợi cá nhân hoặc cố ý làm trái quy định pháp luật. Vì vậy, nếu thiếu tiêu chí phân loại rõ ràng, cơ chế này có thể bị lợi dụng hoặc gây ra tâm lý “nương tay” trong xử lý vi phạm.

Về vấn đề này, Luật sư Nguyễn Hưng Quang, VPLS NHQuang & Cộng sự, Chủ tịch Trung tâm Hòa giải thương mại Quốc tế Việt Nam (VICMC) cũng cho rằng, để cơ chế này phát huy hiệu quả trên thực tế, việc sửa đổi Bộ luật Hình sự cần được thực hiện đồng bộ với các quy định tố tụng liên quan.

Ông dẫn ví dụ, Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi hiện đang đề xuất bổ sung quy định buộc người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không tố giác một số tội phạm mà thân chủ đang chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện đối với các tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, ngoại trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Theo luật sư Quang, quy định này chưa thực sự phù hợp với thông lệ pháp lý tại nhiều quốc gia phát triển cũng như nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự. Trên thực tế, doanh nghiệp và cá nhân thường tìm đến luật sư để được tư vấn, đánh giá rủi ro pháp lý và có hướng xử lý phù hợp nhằm phòng ngừa vi phạm. Nếu luật sư có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi tham gia tư vấn, hỗ trợ pháp lý, doanh nghiệp sẽ e ngại tiếp cận luật sư, từ đó làm suy giảm hiệu quả của cơ chế phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh.

Luật sư này cho rằng điều này phần nào đi ngược tinh thần “không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự” cũng như mục tiêu của cơ chế “tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự”. Đồng thời, quy định buộc luật sư hoặc người bào chữa phải tố giác thân chủ còn có thể tác động tiêu cực đến nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa và tính độc lập của nghề luật sư.

“Đây không chỉ là câu chuyện liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư, mà còn tác động trực tiếp đến niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường pháp lý và hiệu quả vận hành của hệ thống tư pháp”, luật sư Nguyễn Hưng Quang nhấn mạnh.

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn