Nghiên cứu - Trao đổi
Cần tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp theo hướng linh hoạt
Dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, một số ý kiến cho rằng, cần tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp theo hướng linh hoạt.
Theo thống kê, từ ngày 01/4/2025 đến nay, Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét, thông qua 99 Dự án Luật, Nghị quyết, đồng thời trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua 2 pháp lệnh, ban hành 448 Nghị định, 74 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 37 Nghị quyết của Chính phủ. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã ban hành theo thẩm quyền 794 Thông tư; 7 Thông tư liên tịch.
Các địa phương đã ban hành 1.768 Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh; 4.169 quyết định của UBND cấp tỉnh; 80 quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh; 297 Nghị quyết của HĐND cấp xã và 1.198 Quyết định của UBND cấp xã; 75 Nghị quyết của HĐND cấp huyện và 47 Quyết định của UBND cấp huyện (giai đoạn từ ngày 1/4/2025 đến ngày 30/6/2025).

Để có những kết quả đã nêu, Bộ Tư pháp cho rằng, sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thông qua và có hiệu lực, việc ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng VBQPPL tiếp tục được nâng cao; nhiều văn bản được ban hành kịp thời để thể chế hóa chủ trương của Đảng, phục vụ sắp xếp tổ chức bộ máy, thúc đẩy phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số, phát triển khoa học công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc cả từ quy định của Luật lẫn khâu tổ chức thực hiện. Trong đó, hệ thống VBQPPL hiện còn cồng kềnh, phân tán với nhiều tầng nấc, nhiều hình thức văn bản và chủ thể có thẩm quyền ban hành, dẫn tới tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và khó khăn trong áp dụng thực tiễn.
Một số quy định của Luật còn chưa rõ ràng, thiếu thống nhất, đặc biệt liên quan đến thẩm quyền ban hành văn bản, xác định hiệu lực pháp lý, quy trình xây dựng chính sách, trình tự thủ tục rút gọn cũng như cơ chế xử lý các vấn đề phát sinh cấp bách trong thực tiễn…
Trước thực tế đã nêu, theo các chuyên gia, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng VBQPPL bảo đảm chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, hiệu quả, linh hoạt đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nhấn mạnh đến đổi mới quy trình lập pháp, ông Đồng Ngọc Ba đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cho rằng, về tổng thể, cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới mạnh mẽ, cải cách toàn diện quy trình lập pháp hiện hành, theo hướng không chỉ dừng lại ở việc quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản mà phải hướng tới quản trị toàn bộ “vòng đời” của văn bản quy phạm pháp luật.
Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới quy trình lập pháp theo hướng linh hoạt, rút ngắn thời gian nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, nâng cao chất lượng chính sách và chất lượng văn bản; tăng cường tham vấn, phản biện chính sách, nâng cao tính dự báo, tính ổn định và khả năng thực thi của pháp luật.
Đặc biệt, cần nghiên cứu bổ sung các quy định về tổ chức thi hành pháp luật, đánh giá hiệu quả văn bản sau ban hành và cơ chế phản hồi chính sách để kịp thời sửa đổi, hoàn thiện pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Theo ông Đồng Ngọc Ba, thực tế cho thấy, một trong những điểm bất cập trong quy trình lập pháp thời gian qua đó là tình trạng lạm dụng trình tự, thủ tục rút gọn để “bỏ qua” không thực hiện quy trình chính sách, trong khi có những dự án có phạm vi điều chỉnh rộng, tác động đến nhiều đối tượng trong xã hội, rất cần thực hiện quy trình chính sách để bảo đảm khách quan, minh bạch, khả thi, hợp lý của chính sách, hạn chế tình trạng luật vừa ban hành đã phải sửa đổi vì không thực hiện được hoặc chi phí tuân thủ quá lớn.
Từ thực tế này, ông Đồng Ngọc Ba đề xuất, cần nghiên cứu khoanh lại phạm vi, giới hạn các trường hợp được áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn, kiên quyết không áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với các dự án còn đủ thời gian để thực hiện đầy đủ các quy trình thông thường.
Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện quy định về giám sát văn bản quy phạm pháp luật sau khi ban hành, chuyển mạnh mục tiêu hoạt động giám sát của Quốc hội theo hướng giám sát để kiến tạo phát triển.
“Cần từng bước chuyển từ tư duy “kiểm tra - xử lý” sang tư duy “đồng hành - hỗ trợ - cải thiện”, xác định giám sát không chỉ nhằm phát hiện vi phạm, sai sót hay xử lý trách nhiệm mà quan trọng hơn là kịp thời nhận diện các rủi ro pháp lý, điểm nghẽn thể chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành chính sách, pháp luật ngay từ giai đoạn đầu để chủ động kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật.
Hoạt động giám sát cần hướng mạnh hơn vào việc đánh giá hiệu quả thực chất của chính sách và mức độ tác động của văn bản đối với người dân, doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, góp phần kiến tạo môi trường pháp lý thông suốt, ổn định nhưng linh hoạt, khuyến khích đổi mới sáng tạo và khơi thông nguồn lực cho phát triển”, ông Đồng Ngọc Ba nhấn mạnh.
Đề xuất định hướng hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số và cải cách thể chế, đại diện Bộ Tài Chính cho biết, trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách thể chế hiện nay, cần nghiên cứu hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật theo hướng điện tử hóa, liên thông, công khai và tăng cường trách nhiệm cá nhân trong từng khâu của quá trình xây dựng văn bản.
Theo đó, cần sớm xây dựng quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên môi trường điện tử thống nhất từ khâu đề xuất chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, tiếp thu, giải trình, thẩm định, thẩm tra đến trình ban hành và theo dõi thi hành văn bản nhằm giảm thời gian xử lý hồ sơ, bảo đảm theo dõi tiến độ, trách nhiệm xử lý và kiểm soát chất lượng văn bản theo thời gian thực…