Nghiên cứu - Trao đổi
Lời giải cho bài toán phát triển công nghiệp hỗ trợ
Trong bối cảnh doanh nghiệp còn đối mặt với nhiều hạn chế về nguồn lực, tài chính, năng lực công nghệ, Quyết định số 929/QĐ-TTg ra đời được cho là lời giải cho bài toán phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035.

Theo Quyết định, công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng để phát triển công nghiệp quốc gia theo hướng bền vững, tự chủ và hiện đại. Việc phát triển lĩnh vực này nhằm hình thành năng lực sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
Chương trình đặt mục tiêu thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển theo chiều sâu, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện và phụ tùng quan trọng; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để hình thành các sản phẩm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Đáng chú ý, Chính phủ định hướng tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, ô tô, cơ khí và tự động hóa, công nghiệp công nghệ cao, dệt may và da giày gắn với kinh tế xanh.
Mục tiêu đến năm 2030 là một số ngành công nghiệp chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40 - 45%, chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN.

Chương trình cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn phát triển công nghiệp hỗ trợ với đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và ứng dụng tự động hóa, công nghệ cao trong sản xuất. Các hoạt động phát triển phải đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường, năng lượng và phát triển bền vững theo định hướng tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bên cạnh đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ theo chuỗi cung ứng, thúc đẩy nâng cao năng lực công nghệ, quản trị, chất lượng và phát triển sản phẩm, qua đó hình thành hệ thống doanh nghiệp hạt nhân và hỗ trợ doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn trong nước và quốc tế.
Trong bối cảnh doanh nghiệp còn đối mặt với nhiều hạn chế về nguồn lực, tài chính và năng lực công nghệ, Quyết định số 929/QĐ-TTg ra đời được cho là lời giải cho bài toán phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Thực tế, thống kê của Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương trước đó cho thấy, Việt Nam hiện có khoảng 1.700 doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, chiếm khoảng 40% tổng số doanh nghiệp toàn ngành nhưng cơ cấu ngành hàng, tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều lĩnh vực vẫn còn khiêm tốn.
Cụ thể, dệt may, da giày đạt khoảng 45 -50%; cơ khí chế tạo đạt 15 - 20%, lắp ráp ô tô chỉ đạt 5 - 20%. Còn với khoảng 6.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước hiện chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu linh kiện, phụ tùng phục vụ sản xuất…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này được cho là bởi những rào cản về công nghệ, vốn và nguồn nhân lực. Công nghệ cao là yêu cầu bắt buộc vì chỉ có công nghệ cao mới làm ra được các sản phẩm phù hợp, nếu ngành công nghiệp phụ trợ tiếp tục sử dụng công nghệ cũ sẽ không thể đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đối với vấn đề vốn, để có công nghệ cao, doanh nghiệp phải có vốn nhưng hầu hết các doanh nghiệp nước ta lại yếu về năng lực tài chính. Các chính sách hỗ trợ tín dụng cũng chưa phát huy hiệu quả.
Về nhân lực cũng đang tồn tại không ít bất cập. Số lao động có tay nghề cao chưa đáp ứng nhu cầu. Phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa liên kết với các trường đại học, cao đẳng để phát triển nguồn nhân lực dẫn đến thiếu hụt và không chủ động được nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa chương trình đào tạo với xu hướng phát triển khoa học, công nghệ trên thế giới; các chương trình đào tạo thiên nhiều về lý thuyết, thiếu thực hành.
Vì vậy, nhìn nhận về các chủ trương được Quyết định số 929/QĐ-TTg đề ra, không ít ý kiến cho rằng, nếu tận dụng hiệu quả, Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên trở thành trung tâm sản xuất, linh kiện hàng đầu của khu vực ASEAN. Từ đó có thể mở rộng sản xuất phát triển sản xuất kinh doanh góp phần vào thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.
Được biết, trong những năm qua, để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp hỗ trợ nói riêng, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, như: Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 22/3/2018 về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 về phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 về việc phê duyệt chương trình phát triển CNHT từ năm 2016 đến 2025; Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 06/08/2020 về các giải pháp thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ…
Tuy nhiên, không ít ý kiến kỳ vọng cơ quan quản lý Nhà nước sẽ sớm xây dựng Luật Phát triển công nghiệp hỗ trợ để hình thành khung pháp lý thống nhất, ổn định, đảm bảo tự chủ sản xuất, hội nhập bền vững và phát triển của doanh nghiệp trong nước trong chuỗi giá trị toàn cầu.