Quản trị

Quản trị

Gỡ điểm nghẽn dệt nhuộm để tăng nội địa hóa dệt may

Quân Bảo 27/05/2026 02:14

Việt Nam nỗ lực tự chủ hơn 50% nguyên liệu dệt may thế nhưng điểm nghẽn “khó nhằn” đang nằm ở khâu dệt nhuộm.

Ngành dệt may Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách về việc thay đổi cấu trúc sản xuất để tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA). Theo ông Hoàng Mạnh Cầm, Chánh Văn phòng HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), quy tắc xuất xứ từ vải trong FTA với EU là động lực bắt buộc Việt Nam phải phát triển mạnh mẽ khâu dệt nhuộm nội địa. Nếu không giải quyết được bài toán này, các doanh nghiệp may mặc sẽ khó có thể hưởng những ưu đãi thuế quan từ thị trường châu Âu.

dac-tinh-va-gioi-han-xa-thai-cua-nuoc-thai-cong-nghiep-det-nhuom.jpg
Nội địa hóa dệt nhuộm đang là một bài toán khó.

Thực tế hiện nay cho thấy sự phụ thuộc nặng nề của ngành vào nguồn cung ngoại lực. TS Trần Công Chính, chuyên gia chính sách Dệt may tuần hoàn thuộc Trường ĐH Kinh tế ĐH Quốc gia Hà Nội, nhận định ngành dệt may Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào việc nhập khẩu nguyên liệu, trong đó Trung Quốc là nguồn cung chính. Sự lệ thuộc này không những gây rủi ro về quy tắc xuất xứ mà còn khiến chuỗi cung ứng trong nước dễ bị tổn thương trước các biến động từ thị trường lân bang.

Dù vậy, các nỗ lực nội địa hóa đã ghi nhận những chuyển biến định lượng. Theo dữ liệu từ ông Hoàng Mạnh Cầm, tỷ lệ tự chủ nguyên liệu của ngành may mặc Việt Nam hiện đạt mức hơn 50%. Đây là một bước tiến đáng kể so với con số 45% được ghi nhận trong các báo cáo định kỳ trước đó. Tuy nhiên, khoảng trống gần 50% còn lại vẫn tập trung ở khâu dệt nhuộm, mảng công việc đòi hỏi trình độ kỹ thuật và vốn đầu tư cao.

Nút thắt thực sự của chuỗi giá trị dệt may không nằm ở khâu may cắt mà tập trung tại công đoạn hoàn tất vải. Ông Hoàng Mạnh Cầm khẳng định: “Điểm nghẽn vẫn nằm ở ngành dệt nhuộm.” Đây là công đoạn quyết định chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm, đồng thời là điều kiện đủ để các doanh nghiệp đạt được chứng nhận xuất xứ cần thiết.

Trong khi Việt Nam đang loay hoay với điểm nghẽn này, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã có những phản ứng nhạy bén. Ông Hoàng Mạnh Cầm quan sát thấy có sự dịch chuyển rõ rệt của các doanh nghiệp FDI dệt nhuộm sang Việt Nam. Nguyên nhân chính dẫn đến làn sóng này là do chi phí nhân công tại Trung Quốc liên tục tăng cao, buộc các tập đoàn phải tìm kiếm các công xưởng thay thế có chi phí tối ưu hơn.

Sự chuyển dịch này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc đang thực hiện tái cấu trúc chiến lược ngành dệt may toàn cầu. Thay vì duy trì các nhà máy sản xuất trực tiếp có khả năng gây ô nhiễm cao và thâm dụng lao động, Trung Quốc đang chuyển sang nắm giữ công nghệ lõi và tập trung bán máy móc thiết bị. Theo quan điểm của ông Hoàng Mạnh Cầm, quốc gia này đang nhường lại không gian sản xuất thực tế cho Việt Nam để tập trung vào các tầng giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng.

Mặc dù dệt nhuộm được xác định là chìa khóa để mở cánh cửa các FTA, nhưng ngành này lại đang đối mặt với những rào cản lớn về mặt định hướng và quản lý cấp địa phương. Một trong những điểm bất thường chính là vị thế của dệt may trong bảng thứ tự ưu tiên quốc gia.Ông Hoàng Mạnh Cầm cho biết ngành dệt may Việt Nam hiện không nằm trong danh sách các ngành được Chính phủ ưu tiên hàng đầu, xếp sau các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, chip bán dẫn và công nghệ cao.

Sự thiếu vắng ưu tiên này dẫn đến những hệ quả trực tiếp trong việc cấp phép sản xuất tại các địa phương. Các quy định nội bộ và việc kiểm soát liên quan đến môi trường tại các tỉnh hiện nay được siết chặt và giám sát khắt khe. Nhiều địa phương có tâm lý e ngại việc cấp phép cho các dự án dệt nhuộm do lo ngại về vấn đề xử lý nước thải và tác động sinh thái.

Nghịch lý này tạo ra một lực cản vô hình đối với nỗ lực tự chủ nguyên liệu. Trong khi đó, các đối thủ cạnh tranh trong khu vực đang có những bước đi cởi mở hơn. Ông Hoàng Mạnh Cầm dẫn chứng trường hợp Indonesia khi quốc gia này không hạn chế phát triển ngành dệt nhuộm trong chính sách nội địa, điều này tạo ra áp lực cạnh tranh trực tiếp và gay gắt đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh rào cản chính sách, khả năng tài chính cho mục tiêu xanh hóa cũng là một bài toán khó. Ông Văn Công Bình, Giám đốc Môi trường và Xã hội của HDBank, nhận định các doanh nghiệp dệt may, đặc biệt là các đơn vị nhuộm, đang gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn xanh. Việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn và công nghệ nhuộm tiết kiệm nước đòi hỏi nguồn vốn lớn và dài hạn, nhưng các cơ chế hỗ trợ tài chính hiện nay chưa đủ linh hoạt để đáp ứng nhu cầu này.

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Việt Nam đang lựa chọn một lộ trình phát triển mang tính thực dụng hơn. Thay vì chạy đua theo mô hình chiếm lĩnh công nghệ và bán bản quyền như các quốc gia phát triển, ngành dệt may hướng tới chiến lược “thực túc đạo hồi”. Ông Hoàng Mạnh Cầm giải thích về triết lý này: “Chúng ta nghiên cứu để phục vụ chính mình trước khi tính đến quy mô lớn như họ.” Lộ trình này ưu tiên việc đảm bảo năng lực sản xuất vải đáp ứng nhu cầu của các đơn hàng nội địa và các FTA hiện có, thay vì tập trung vào việc bán ý tưởng thiết kế cho các đơn vị khác.

Ông Văn Công Bình cho biết, HDBank sẵn sàng ngồi lại cùng các đối tác và hiệp hội (như VITAS) để thiết kế riêng một chương trình tín dụng xanh quy mô khoảng 2.000 đến 3.000 tỷ đồng dành riêng cho ngành dệt may. Chương trình này sẽ có các biểu mẫu (form) và quy trình chuẩn hóa để các doanh nghiệp trong ngành có thể áp dụng dễ dàng, tạo ra một động lực chuyển đổi trạng thái mới cho toàn bộ nhóm ngành dệt may sang tài chính xanh.

Việc giải quyết điểm nghẽn dệt nhuộm đòi hỏi một sự đồng bộ giữa nhiều bên. Nếu không sớm có những thay đổi, ngành dệt may Việt Nam đứng trước nguy cơ lỡ nhịp trong việc hiện thực hóa các lợi thế từ những FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã nỗ lực ký kết.

Quân Bảo