Kiến nghị
VCCI góp ý cơ chế phân loại rủi ro hàng hóa nông nghiệp, môi trường
VCCI cho rằng việc xây dựng danh mục sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro cần dựa trên dữ liệu định lượng và bằng chứng thực tiễn rõ ràng, thay vì các mô tả mang tính chung chung.
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình, mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Dự thảo). Trong đó, doanh nghiệp đặc biệt lưu ý tới tính minh bạch của phương pháp đánh giá rủi ro và nguy cơ phát sinh chồng chéo thủ tục trong giai đoạn chuyển tiếp.

Theo VCCI, việc xây dựng danh mục sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro là bước đi cần thiết nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý chất lượng theo hướng hiện đại, dựa trên mức độ rủi ro thay vì quản lý đồng loạt như trước đây. Danh mục này sẽ là cơ sở để xác định biện pháp quản lý phù hợp đối với từng nhóm hàng hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm an toàn cho con người, vật nuôi và môi trường, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, đối chiếu với hồ sơ dự thảo và các bản thuyết minh đi kèm, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng vẫn còn nhiều nội dung cần tiếp tục hoàn thiện.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, mặc dù Dự thảo đã viện dẫn phương pháp đánh giá rủi ro theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, song phần lớn các tiêu chí đánh giá hiện vẫn mang tính mô tả định tính, chưa thể hiện rõ cơ sở lượng hóa cũng như cách thức xác định mức độ rủi ro đối với từng sản phẩm.
VCCI dẫn ví dụ đối với sản phẩm giống lúa, giống ngô, phần đánh giá “khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng” nêu các đặc điểm như chuỗi cung ứng đa tầng, phân tán rộng, có yếu tố xuyên biên giới, nhiều khâu trung gian… Tuy nhiên, các mô tả này còn khá chung chung và có thể áp dụng cho nhiều loại hàng hóa khác nhau. Trong khi đó, điều doanh nghiệp cần là thông tin cụ thể về hiện trạng chuỗi cung ứng của từng sản phẩm tại Việt Nam, mức độ kiểm soát thực tế cũng như các dữ liệu liên quan.
Tương tự, với tiêu chí đánh giá “khả năng xảy ra mối nguy”, Dự thảo cho rằng có nguy cơ ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng hệ sinh thái dựa trên dữ liệu vi phạm môi trường của các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống lúa, ngô. Tuy nhiên, bản thuyết minh chưa nêu rõ số liệu vi phạm, tần suất, mức độ tác động hay bằng chứng khoa học cụ thể để làm căn cứ xác định mức độ rủi ro.
Theo VCCI, việc thiếu các dữ liệu đầu vào mang tính định lượng khiến kết quả đánh giá mức độ rủi ro của từng sản phẩm chưa thực sự thuyết phục.

Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung bảng tính điểm đối với các tiêu chí đánh giá rủi ro như k, C, P; đồng thời thuyết minh cụ thể cách xác định điểm số cho từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm. Các nguồn dữ liệu sử dụng cần rõ ràng, có tính định lượng và phản ánh đúng thực tiễn sản xuất, kinh doanh cũng như cơ chế kiểm soát đang được áp dụng.
Một nội dung khác được doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là vấn đề chuyển tiếp giữa cơ chế quản lý cũ và cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro.
Theo VCCI, hiện nay nhiều quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) và biện pháp quản lý vẫn đang được xây dựng trên nền tảng quản lý hàng hóa nhóm 2 trước đây. Nếu Dự thảo chuyển sang áp dụng cơ chế quản lý mới nhưng hệ thống QCVN chưa được rà soát, điều chỉnh tương ứng, có thể dẫn tới tình trạng chồng chéo hoặc thiếu thống nhất trong quá trình thực hiện.
Điều này có nguy cơ làm phát sinh thêm thủ tục hành chính, chi phí thử nghiệm, đánh giá sự phù hợp và gây khó khăn cho doanh nghiệp trong hoạt động công bố hợp quy, lưu thông hàng hóa.
Trong khi đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm của các bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc rà soát, sửa đổi hoặc ban hành mới các QCVN tương ứng với cơ chế quản lý theo mức độ rủi ro.
Từ thực tế này, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung quy định về biện pháp quản lý áp dụng trong giai đoạn chuyển tiếp đối với các sản phẩm thuộc nhóm rủi ro trung bình và rủi ro cao, trong thời gian hệ thống QCVN chưa được điều chỉnh đồng bộ. Đồng thời, cần nghiên cứu lộ trình rà soát, sửa đổi các QCVN và quy định liên quan nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hạn chế phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết cho doanh nghiệp.