Chuyên đề

Chuyên đề

Đi trước về chuyển đổi xanh - Bệ phóng chắc chắn trong đầu tư ESG

Lê Mỹ 28/05/2026 12:25

Theo ông John Crimes - CEO Hội đồng Năng lượng Tái tạo Châu Á Thái Bình Dương, những quốc gia đi trước về chuyển đổi xanh, sẽ tạo sự chắc chắn trong đầu tư ESG dài hạn.

Trong bối cảnh địa chính trị biến động, dòng vốn FDI đang ưu tiên những khu vực có hạ tầng xanh và chuỗi cung ứng bền bỉ. Và ESG không còn là một câu chuyện truyền thông mà là một khung quyết định sống còn, thì quốc gia nào, doanh nghiệp nào chứng minh được tính minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ chiếm ưu thế trong việc thu hút dòng vốn chất lượng cao.

Dòng vốn đầu tư ESG tìm kiếm sự rõ ràng

Với việc ESG dần trở thành một phần của văn hóa vốn, sự đồng hành của các bên để chủ động định hình tương lai dài hạn của nền kinh tế Việt Nam trong sứ mệnh tiên phong chuyển đổi xanh càng được xác định vai trò quan trọng. Nhấn mạnh về xu thế chuyển đổi xanh và tiên phong ESG, phát biểu tại Hội nghị Đầu tư ESG Việt do Raise Partners và Ivy+Partners đồng tổ chức, với sự đồng hành của Vietnam Innovators Digest (thuộc Vietcetera), ông John Crimes cho biết, Việt Nam đang có lợi thế chiến lược to lớn. Quốc gia 100 triệu dân có nền tảng để xây dựng một quá trình chuyển đổi được lên kế hoạch theo cách mà các quốc gia khác phải "ghen tị". Và vì vậy, với ý chí chuyển đổi của quốc gia, tạo ra một cơ hội to lớn cho quá trình chuyển đổi nhanh chóng.

Ông John Crimes - CEO Hội đồng Năng lượng Tái tạo Châu Á Thái Bình Dương: Việt Nam có lợi thế to lớn thu hút các dòng vốn đầu tư chuyển đổi xanh
Ông John Crimes - CEO Hội đồng Năng lượng Tái tạo Châu Á Thái Bình Dương: Việt Nam có lợi thế to lớn thu hút các dòng vốn đầu tư chuyển đổi xanh

Đề cập đến việc tập trung và sẵn sàng cho chuyển đổi ở các quốc gia như Úc, Pakistan cho đến Việt Nam với hàng chục gigawatt điện mặt trời áp mái được lắp đặt từ các tấm pin năng lượng mặt trời, CEO Hội đồng năng lượng tái tạo khu vực Châu Á Thái Bình Dương cho rằng, cơ sở cho một thời điểm bùng nổ đầu tư năng lượng mặt trời tái tạo đang dần đến.

Cùng với đó, ông cho rằng vai trò của lưới điện quan trọng hơn nhiều so với mọi người nghĩ. "Bạn có thể lắp đặt toàn bộ năng lượng mặt trời trên đó hoặc pin và gió, nhưng nếu bạn không có cơ sở hạ tầng lưới điện, bạn đang tài trợ cho sự nghẽn mạch, bạn không tài trợ cho năng lượng sạch giá rẻ. Vì vậy, tập trung vào điều đó là quan trọng", nhấn mạnh.

Một yếu tố quan trọng khác được ông chia sẻ để đặt nền tảng cho chuyển đổi xanh, tạo bệ phóng cho đầu tư ESG, đó là hiệu quả cụ thể và rõ ràng từ kế hoạch đến thực thi. " Sự chắc chắn của lưới điện, tốc độ cấp phép, sự rõ ràng trong mua sắm, khả năng vay vốn ngân hàng, quy hoạch truyền tải. Thực thi, nếu làm đúng sẽ thu hút vốn, có một lượng lớn vốn toàn cầu đang lưu chuyển khắp nơi, tiền không phải là vấn đề. Có được một dự án có thể đầu tư là điều cốt lõi mở khóa nguồn vốn và mở khóa quá trình chuyển đổi", theo ông John Crimes.

Ông cũng cho biết Hội đồng Năng lượng Tái tạo Châu Á - Thái Bình Dương đang xây dựng một nền tảng tạo dựng thỏa thuận xanh khu vực để kết nối các chính phủ, ngành công nghiệp, tài chính, các nhà hoạch định chính sách lại với nhau theo một cách có tổ chức nhằm tăng tốc chu kỳ triển khai. "Chúng tôi biết những điểm nghẽn là gì. Chúng tôi biết các chính phủ cần gì về mặt bảo hộ để họ có được giá trị tốt từ các dự án. Nhưng chúng tôi cũng biết các nhà đầu tư cần gì để làm cho các dự án có thể đầu tư được. Chúng tôi nghĩ rằng bằng cách mang các yếu tố lại với nhau, chúng ta có thể đẩy nhanh quá trình chuyển đổi này".

Trong một thế giới đang có nhiều biến động, với tác động của thuế quan, gián đoạn chuỗi cung ứng, mất an ninh nhiên liệu, chuyển dịch sản xuất về nước..., vị chuyên gia về đầu tư năng lượng tái tạo nổi tiếng đến từ Úc nhấn mạnh càng trong những giai đoạn bất ổn, dòng vốn càng tìm kiếm sự rõ ràng.

Theo đó, ông khuyến nghị cho các quốc gia đang tìm cách chuyển đổi. Đầu tiên, đẩy nhanh sự tập trung vào lưới điện. Thứ hai, tạo ra sự chắc chắn trong đầu tư. Thứ ba, mở rộng quy mô năng lượng phân tán. Sự chuyển đổi từ dưới lên, do cá nhân và cộng đồng dẫn dắt đó có thể diễn ra nhanh chóng. Và nếu trao quyền cho các chủ thể, có thể thay đổi bộ mặt hệ thống năng lượng quốc gia mà không cần phải xây dựng các đường dây truyền tải khổng lồ, những siêu dự án này và tài trợ cho chúng.

"Ở Úc ngày nay, khoảng 50% lượng điện của chúng tôi đến từ năng lượng tái tạo. Chúng tôi đang đi đúng hướng để đạt 82% năng lượng tái tạo vào năm 2030. Ở Nam Úc, họ đang đi đúng hướng để đạt 100% năng lượng tái tạo vào năm 2027 tới. Và một điều đáng ngạc nhiên đang xảy ra ở Nam Úc. Họ đang thu hút các ngành công nghiệp mới, những ngành muốn có điện sạch, rẻ như một yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp của họ. Úc sẵn sàng trở thành một đối tác kiên định của Việt Nam trong hành trình đó", ông khẳng định.

Giai đoạn thu hút vốn đầu tư chất lượng

Tại sự kiện, bà Nguyễn Thị Trúc Vân - Giám đốc, Trung tâm Mô phỏng và Dự báo Kinh tế - Xã hội Thành phố (trực thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển - HIDS) kiêm Phó Ban Truyền thông, Hợp tác quốc tế của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC) cho biết, Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Hàng loạt Nghị quyết, chủ trương, trong đó có kế hoạch và hiện đã ra mắt VIFC là nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu này.

bA vAN
Bà Nguyễn Thị Trúc Vân - Giám đốc, Trung tâm Mô phỏng và Dự báo Kinh tế - Xã hội Thành phố, Phó ban Truyền thông, Hợp tác quốc tế VIFC-HCMC chia sẻ về triển vọng dòng vốn đầu tư quốc tế vào Việt Nam.

Nhìn lại năm 2025 mức tăng trưởng kinh tế là khoảng 8%, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi với một số ngành và lĩnh vực đạt mức tăng trưởng hai con số, bà Vân cho biết tiêu dùng cuối cùng tăng đáng kể, đạt tốc độ khoảng xấp xỉ 8%. Cùng với đó xuất nhập khẩu đạt mức cao kỷ lục, gần 900 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới, tốc độ tăng trưởng cả xuất khẩu và nhập khẩu đều ở mức cao bất chấp những tác động bất lợi từ căng thẳng thuế quan, và về tích lũy tài sản cố định đang tăng mạnh cùng với dòng vốn lớn đổ vào.

Nói riêng về dòng vốn đầu tư, theo bà Nguyễn Thị Trúc Vân, Việt Nam đang vào giai đoạn ghi nhận dòng vốn đầu tư tăng mạnh, đặc biệt là đầu tư tư nhân tăng mạnh khoảng 9,2%, và nguồn vốn đầu tư công lớn hướng tới mục tiêu giải ngân 100% kế hoạch. Năng suất lao động cùng năng suất nhân tố tổng hợp đóng góp tích cực vào tăng trưởng, đây là một trong những yếu tố quan trọng có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong đó năng suất lao động tăng nhanh, đóng góp vào mức tăng trưởng GDP khoảng 6,9% điểm.

Ngoài ra, về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu, với thứ hạng GII là 44 trên tổng số 133 quốc gia và đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, điều này rất quan trọng khi chúng ta muốn tập trung vào công nghệ tài chính fintech, bà nhấn mạnh.

Các biến số như lạm phát được kiểm soát nhưng tỷ giá hối đoái chịu áp lực đáng kể, không làm suy giảm sức hút đầu tư của Việt Nam.

Theo Phó Ban Truyền thông, Hợp tác quốc tế của Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HHCM, Việt Nam có một số lợi thế về địa kinh tế và địa chính trị. Về vị trí chiến lược, Việt Nam nằm ở ngã tư quốc tế của tuyến đường hàng hải và là điểm trung tâm của khu vực Đông Nam Á, là cửa ngõ giao thương. Về vị trí địa lý, đây là cầu nối giữa các nền tảng kinh tế phẳng và chiến lược kết nối thị trường. Và về lợi thế chính trị xã hội, trước hết Việt Nam có hệ thống chính trị nhất quán, thứ hai là chính sách được điều chỉnh để đảm bảo sự thích ứng thực tế, và thứ ba là môi trường đầu tư an toàn, môi trường sống hòa bình, mức độ hài lòng của công chúng cao và sự đoàn kết cộng đồng.

Với định hướng tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030, theo bà Vân, mặc dù chúng ta có một số thế mạnh và có tốc độ tăng trưởng cao vào năm 2025, nhưng chúng ta cũng có một số cơ hội và thách thức cho giai đoạn tiếp theo.

Ví dụ, về cơ hội, chúng ta phải thu hút một nguồn vốn đầu tư mạnh mẽ, đặc biệt là nguồn vốn chất lượng cao như trong lĩnh vực công nghệ và hệ thống năng lượng bền vững.

Thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tạo cơ hội cho Việt Nam bắt kịp.

Và thứ ba là sự phát triển bền vững đang thúc đẩy nhu cầu gia tăng đối với năng lượng tái tạo và năng lượng thân thiện với môi trường.

Cuối cùng là sự cạnh tranh chiến lược thúc đẩy các quốc gia tìm kiếm đối tác mới.

"Chúng ta cũng có một số thách thức, ví dụ như mô hình tăng trưởng ngoại thương sâu rộng của Việt Nam dễ gặp rủi ro lớn từ các rào cản thuế quan do các quốc gia khác áp đặt, và rủi ro bị tụt lại phía sau sẽ xuất hiện nếu quá trình bắt kịp và đón nhận công nghệ gặp thách thức. Một số thách thức mà nền kinh tế phải đối mặt mang tính cấu trúc, và chúng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu, nhu cầu huy động các nguồn lực tài chính là vô cùng lớn", bà Vân nói.

Để đạt được các mục tiêu cao, song song tăng trưởng bền vững, Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh và muốn tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, phải xây dựng nền kinh tế số và xã hội số.

Trong các trụ cột chiến lược, bà khẳng định VIFC là một trong những yếu tố quan trọng để đạt được mức tăng trưởng kinh tế hai con số tại Việt Nam. Những tín hiệu quan trọng như Thành phố Hồ Chí Minh xếp thứ 95 trong bảng xếp hạng GFCI, đặt tầm nhìn xa với việc VIFC tại Thành phố Hồ Chí Minh mong muốn trở thành một trung tâm tài chính hàng đầu trong khu vực châu Á, là cầu nối chiến lược để đưa nguồn vốn quốc tế vào nền kinh tế thực của Việt Nam, lọt vào top 75 thế giới vào năm 2035 và top 50 vào năm 2045.

Và Vân khẳng định: Chúng tôi kỳ vọng xây dựng một trung tâm tài chính thể chế đồng hành cùng thương mại, dòng vốn và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trung tâm sẽ xây dựng trên bốn trụ cột, thứ nhất là thị trường vốn, thứ hai là tài chính phục vụ cho thương mại, và về ngân hàng số cùng fintech, và cuối cùng là về các sản phẩm tài chính hỗn hợp.

Theo đó, bà bày tỏ kỳ vọng về mối quan tâm của các khách hàng mục tiêu với VIFC-HCMC để hướng đến các mục tiêu tăng trưởng cao của TPH CM và cả nước trong giai đoạn mới.

tt.jpg

Lê Mỹ