Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Nhiều điểm nghẽn khi sử dụng tài sản vô hình làm tài sản bảo đảm

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn 29/05/2026 04:30

Dù được kỳ vọng mở thêm “cánh cửa” vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đề xuất cho phép sử dụng tài sản vô hình làm tài sản bảo đảm vẫn đứng trước nhiều rào cản khi triển khai thực tế.

Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa sửa đổi (Dự thảo) đang mở ra hướng tiếp cận mới khi đề xuất cơ chế khuyến khích các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp sử dụng tài sản vô hình để bảo đảm vay vốn. Tuy nhiên, từ quy định đến thực tiễn vẫn còn không ít rào cản, đặc biệt là câu chuyện định giá, kiểm soát rủi ro và hành lang pháp lý.

QT2_9136 (1)
Nhiều chuyên gia cho rằng điểm khó nhất hiện nay không nằm ở chủ trương, mà ở khả năng đưa quy định vào thực tế.

Theo Dự thảo, bên cạnh các tài sản hữu hình như bất động sản, doanh nghiệp có thể dùng tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, tài sản số hay tài sản ảo… để thế chấp vay vốn. Cơ quan quản lý cũng khuyến khích ngân hàng mở rộng cho vay dựa trên hợp đồng tín nhiệm, phương án sản xuất kinh doanh và uy tín thị trường của doanh nghiệp.

Đây được xem là bước đi nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho khu vực kinh tế tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup công nghệ hay các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng điểm khó nhất hiện nay không nằm ở chủ trương, mà ở khả năng đưa quy định vào thực tế.

Theo ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư - Phó Giám đốc Khối Kinh doanh của Chứng khoán ABS, trên thị trường quốc tế, việc sử dụng tài sản mã hóa làm tài sản bảo đảm không phải chưa từng có. Song với các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, đây vẫn là vấn đề rất thận trọng.

Một trong những nguyên nhân lớn là đặc tính biến động mạnh của các loại tài sản mới, đặc biệt là tài sản số. Khác với bất động sản hay máy móc thiết bị có thể định giá và kiểm soát tương đối rõ ràng, các tài sản như tiền kỹ thuật số có thể thay đổi giá trị rất nhanh, thậm chí mất giá mạnh chỉ trong thời gian ngắn. Điều này khiến bài toán quản trị rủi ro trở nên phức tạp hơn với hệ thống ngân hàng.

Theo ông Minh, để cơ chế này có thể triển khai trong thực tế, cần có lộ trình và cách tiếp cận phù hợp thay vì mở rộng quá nhanh.

Ông Minh cho rằng trước mắt nên ưu tiên các loại tài sản “số hóa” có khả năng định giá và kiểm soát rõ ràng, thay vì các tài sản thuần “ảo”. Những tài sản có thể xác lập quyền sở hữu, truy xuất giao dịch và kiểm chứng giá trị minh bạch sẽ phù hợp hơn để các tổ chức tín dụng xem xét làm tài sản bảo đảm.

Ngoài ra, theo ông Minh, muốn tài sản vô hình thực sự “vào cửa” ngân hàng, điều quan trọng là phải hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến định giá, xác lập quyền sở hữu, cơ chế xử lý tranh chấp và thu hồi tài sản khi phát sinh nợ xấu. Khi các tiêu chuẩn này đủ rõ ràng, ngân hàng mới có cơ sở để mạnh dạn mở rộng tín dụng đối với các loại tài sản mới.

minh hoạ (1)
Muốn tài sản vô hình thực sự “vào cửa” ngân hàng, điều quan trọng là phải hoàn thiện hành lang pháp lý liên quan đến định giá, xác lập quyền sở hữu, cơ chế xử lý tranh chấp và thu hồi tài sản khi phát sinh nợ xấu.

Đồng ý với đề xuất của Bộ Tài chính về việc mở rộng kênh tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và khởi nghiệp, TS Huỳnh Trung Minh, Chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng thẳng thắn chỉ ra rằng việc đưa các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ hay tài sản số vào làm tài sản bảo đảm trên thực tế là vô cùng khó khăn do vướng phải ba "điểm nghẽn" cốt lõi.

Đầu tiên là bài toán định giá khi giá trị của tài sản vô hình phụ thuộc lớn vào uy tín doanh nghiệp và có thể sụt giảm ngay lập tức sau một cú sốc thông tin. Thứ hai là rủi ro pháp lý do đặc tính dễ sao chép, khó kiểm soát, trong khi hệ thống pháp luật và đăng ký giao dịch bảo đảm hiện nay chưa có sự đồng bộ để xử lý khi xảy ra tranh chấp. Cuối tính thanh khoản của nhóm tài sản này rất thấp, việc phát mãi một thương hiệu hay bằng sáng chế khó khăn hơn nhiều so với bất động sản. Chính vì những rủi ro này, cùng với quy định phải trích lập dự phòng cao theo luật hiện hành, các ngân hàng thương mại hiện vẫn tỏ ra vô cùng thận trọng và chưa mặn mà với việc mở rộng cho vay bằng tài sản vô hình.

Chuyên gia cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ thay vì chỉ dừng ở các chính sách khuyến khích đơn lẻ. Theo đó, bốn yếu tố then chốt cần được thúc đẩy gồm: hoàn thiện khung pháp lý theo hướng liên thông giữa các bộ, ngành; phát triển cơ chế bảo lãnh tín dụng với sự tham gia chia sẻ rủi ro của Nhà nước; thay đổi tư duy cho vay từ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dòng tiền và mức độ tín nhiệm; đồng thời từng bước hình thành thị trường thứ cấp cho hoạt động mua bán, chuyển nhượng các loại tài sản vô hình.

Bài: Yến Nhung - Ảnh: Quốc Tuấn