Kinh tế thế giới

Kinh tế thế giới

Nhiều doanh nghiệp tầm trung Nhật Bản "đổ bộ" vào Đông Nam Á

Cẩm Anh 29/05/2026 11:07

Đối mặt với bài toán già hóa dân số và thiếu hụt lao động trong nước, ngày càng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhật Bản tăng tốc mở rộng hoạt động sang Đông Nam Á.

37c02956e236172fd8d56dbd75ce235f8830cb1c0daf060ada94a3c9af32f40a.webp
Các công ty Nhật Bản đang lựa chọn thành phố Hồ Chí Minh làm trung tâm sản xuất và chế tạo. Ảnh: PIXABAY

Trong nhiều thập kỷ qua, các doanh nghiệp quy mô vừa của Nhật Bản chủ yếu xây dựng hoạt động kinh doanh dựa vào thị trường nội địa ổn định. Giờ đây, trước thực trạng dân số già hóa, thiếu hụt lao động và tăng trưởng trong nước trì trệ, nhiều doanh nghiệp Nhật Bản đang ngày càng hướng ra nước ngoài.

Ông Yusuke Ojima, Giám đốc cấp cao kiêm Trưởng bộ phận Hải ngoại tại Trung tâm M&A Nihon (công ty niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo), nhận định rằng các nước Đông Nam Á đang trở thành điểm đến thu hút dòng vốn đầu tư từ Nhật Bản.

Dẫn chứng từ cuộc khảo sát năm ngoái của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO), ông cho biết có đến 43,8% doanh nghiệp liên kết của Nhật Bản đang hoạt động tại châu Á và châu Đại Dương có kế hoạch tiếp tục mở rộng quy mô.

Dữ liệu của JETRO cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ các công ty có kế hoạch mở rộng hoạt động ở nước ngoài liên tục duy trì trên mức 40% kể từ năm 2021.

"Tư duy của các doanh nghiệp đã thay đổi một cách rõ rệt. Đối với nhiều doanh nghiệp vừa của Nhật Bản, việc tiến ra thị trường quốc tế không còn là lựa chọn 'có thì tốt, không có cũng chẳng sao'. Giờ đây, đó là một phần tất yếu trong chiến lược tìm kiếm tăng trưởng, giảm thiểu rủi ro tập trung thị trường và chuẩn bị cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo", ông Ojima chia sẻ với tờ The Business Times.

Ông cho biết Đông Nam Á vẫn có sức hút lớn vì khu vực này sở hữu nhiều động lực tăng trưởng mà Nhật Bản đang thiếu, bao gồm quy mô dân số ngày càng tăng, tầng lớp trung lưu phát triển nhanh, tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ và tỷ lệ ứng dụng công nghệ số cao.

"Tôi nghĩ Đông Nam Á tiếp tục nổi bật nhờ một vài lý do rất rõ ràng. Khu vực này hội tụ cả nhu cầu tiêu dùng đang tăng trưởng, khả năng đa dạng hóa chuỗi cung ứng và tính kết nối nội vùng tương đối mạnh mẽ. Sự kết hợp đó rất khó tìm thấy ở nơi nào khác trên thế giới", ông nói thêm.

Vượt ra khỏi chiến lược "Trung Quốc +1"

Sức hấp dẫn của Đông Nam Á không chỉ dừng lại ở chiến lược "Trung Quốc +1". Mối quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và khu vực này đã được tạo dựng qua nhiều thập kỷ, hình thành nên mức độ thấu hiểu và tin cậy nhất định.

Do đó, nhiều công ty Nhật Bản không bước vào Đông Nam Á để xây dựng mọi thứ từ con số không, mà là mở rộng ngay trên những thị trường mà họ đã có sẵn mạng lưới kết nối, đối tác và kinh nghiệm vận hành.

Sức mạnh của mối liên kết đó được thể hiện rõ qua các dòng chảy thương mại và đầu tư. Dữ liệu từ Ban thư ký ASEAN cho thấy kim ngạch thương mại hai chiều giữa Nhật Bản và Đông Nam Á đạt khoảng 236 tỷ USD vào năm 2024. Đồng thời, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Nhật Bản vào khu vực này đã tăng 20% từ năm 2023 đến năm 2024, lên mức 17,5 tỷ USD.

anh-man-hinh-2025-01-08-luc-18-56-57.png
Khu kinh tế đặc biệt Johor - Singapore (JS-SEZ) đang là một trong những mô hình "song hành" hấp dẫn nhất đối với các công ty Nhật Bản.

Mặc dù số liệu thương mại chính thức năm 2025 chưa được hoàn tất, nhiều chuyên gia kỳ vọng làn sóng đầu tư sẽ tiếp tục mạnh mẽ trong bối cảnh các tập đoàn Nhật Bản ngày càng quan tâm đến khu vực này.

Một báo cáo độc lập của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy Nhật Bản dẫn đầu thế giới về dòng vốn đầu tư ra nước ngoài trong nửa đầu năm 2025 với 98 tỷ USD. Trung Quốc đứng thứ hai với 61 tỷ USD và Luxembourg đứng thứ ba với 57 tỷ USD.

Chiến lược đa thị trường

Một điểm hấp dẫn lớn đối với các công ty Nhật Bản là Đông Nam Á không phải là một thị trường đơn nhất, đồng khối, mà là một tập hợp các nền kinh tế vô cùng đa dạng với những thế mạnh và vai trò khác nhau.

Nhờ đó, các doanh nghiệp có thể phân bổ mạng lưới hoạt động trong khu vực theo các mục tiêu chiến lược ưu tiên của mình. Singapore thường được chọn làm trụ sở khu vực hoặc công ty mẹ quản lý vốn, trong khi các thị trường như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia đóng vai trò là các trung tâm sản xuất và chế biến.

Ông Ojima nhận định sự linh hoạt về mặt cấu trúc này ngày càng trở nên giá trị trong bối cảnh kinh tế bất định hiện nay, khi các doanh nghiệp phải tìm cách cân bằng giữa tối ưu hóa chi phí và tính chống chịu của chuỗi cung ứng.

"Trên thực tế, hầu hết các công ty Nhật Bản không nhìn nhận Đông Nam Á theo kiểu bóc tách từng quốc gia riêng lẻ. Họ xem đây là một vùng lãnh thổ thống nhất và xây dựng sự hiện diện trên nhiều thị trường, trong đó mỗi nước đảm nhận một vai trò khác nhau", ông Ojima cho biết.

Ví dụ, Kaneka Corporation, một công ty hóa chất và sinh học của Nhật Bản đặt trụ sở khu vực tại Singapore nhưng liên tục mở rộng mạng lưới khắp Đông Nam Á bằng cách tận dụng các mảng kinh doanh đa dạng của mình.

Tại Việt Nam, tập đoàn này vận hành ba nhà máy sản xuất tập trung vào mảng thiết bị y tế, gia vị và hợp chất nhựa PVC. Tại Thái Lan, hai nhà máy của hãng chuyên sản xuất và kinh doanh nhựa xốp và hợp chất PVC. Trong khi đó, bộ phận sản xuất thực phẩm tại Indonesia lại tập trung vào các sản phẩm dầu chế biến.

Một ông lớn khác trong ngành kỹ thuật của Nhật Bản là Kraftia Corporation (trước đây là Kyudenko Corporation) cũng quản lý mảng xây dựng - năng lượng tại Đông Nam Á thông qua trụ sở khu vực ở Singapore.

Với các văn phòng điều hành tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, Kraftia cung cấp dịch vụ thiết kế và xây dựng cơ sở hạ tầng trọn gói nhằm hỗ trợ các khách hàng của mình mở rộng quy mô trong khu vực.

Tuy nhiên các chuyên gia lưu ý, dù mức độ quan tâm đến Đông Nam Á ngày càng tăng, rào cản lớn nhất đối với nhiều doanh nghiệp vừa của Nhật Bản không nằm ở định giá doanh nghiệp mà là sự tự tin vào năng lực thực thi.

Sự do dự thường xuất hiện khi các doanh nghiệp không có cái nhìn rõ ràng về cách thức bộ máy sẽ vận hành sau khi thâm nhập thị trường. Những lo ngại xung quanh năng lực quản lý của nhân sự bản địa, sự hòa hợp về văn hóa và các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp thường lấn át cả sức hút từ lợi nhuận tài chính đem lại.

Dù các công ty Nhật Bản nhìn chung đã chuẩn bị tâm lý để thích nghi với sự đa dạng của Đông Nam Á, nhưng sự tự tin của họ có thể sụt giảm nhanh chóng nếu các quy định về tuân thủ pháp lý, tính minh bạch tài chính hoặc việc thích ứng với luật pháp sở tại quá phức tạp.

Trong bối cảnh đó, các thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A) ngày càng được các doanh nghiệp Nhật Bản ưa chuộng hơn so với việc tự xây dựng cơ sở từ đầu. Bởi lẽ, việc mua lại hoặc hợp tác với một công ty bản địa đã có chỗ đứng sẽ giúp các doanh nghiệp Nhật Bản sở hữu ngay một nền tảng vận hành, chuyên môn bản địa và sự liên tục trong kinh doanh ngay từ ngày đầu.

Cẩm Anh