Kinh tế địa phương
Chuyển dịch chiến lược ra biển mở bằng hạ tầng công nghiệp công nghệ cao
Tỉnh Quảng Ninh đang tập trung nguồn lực thực hiện bước chuyển đổi chiến lược từ nuôi trồng thủy sản phương thức truyền thống sang quy mô công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao tại các vùng biển mở.
Việc thí điểm thành lập các cụm công nghiệp nuôi biển tại Cô Tô, Vân Đồn và vịnh Bái Tử Long với hệ thống hạ tầng chịu lực, công nghệ số hóa và mô hình kinh tế tuần hoàn đa mục tiêu không chỉ tối ưu hóa chuỗi giá trị kinh tế biển mà còn hình thành các cột mốc chủ quyền kinh tế vững chắc ngoài khơi xa.
.jpg)
Thiết lập hành lang kỹ thuật cho nuôi biển quy mô công nghiệp
Đối với chiến lược phát triển kinh tế biển giai đoạn mới, tỉnh Quảng Ninh xác định không gian biển mở (vùng lộng và vùng khơi) là địa bàn trọng tâm để phát triển các tổ hợp sản xuất thủy sản quy mô lớn. Việc khai thác ven bờ hiện đã quá tải và đối mặt với rủi ro ô nhiễm môi trường. Do đó, việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật hiện đại để dịch chuyển năng lực sản xuất ra ngoài khơi là giải pháp căn cơ nhằm giải quyết bài toán phát triển bền vững.
Để chuẩn bị nền tảng hạ tầng kỹ thuật pháp lý, Quảng Ninh là một trong những địa phương đầu tiên tích hợp vào quy hoạch tỉnh trên 50.000 ha mặt nước biển dành riêng cho nuôi trồng thủy sản. Quy hoạch phân định rõ cấu trúc không gian theo ranh giới quản lý hành chính và đặc tính kỹ thuật như: Khu vực trong phạm vi 6 hải lý, trên 30.000 ha, định hướng tổ chức lại các hộ nuôi cá thể, chuyển đổi toàn bộ phao xốp sang phao nhựa thân thiện môi trường.
Khu vực ngoài phạm vi 6 hải lý, gần 20.000 ha, là không gian mở dành riêng để thu hút dòng vốn đầu tư doanh nghiệp vào các dự án nuôi biển công nghiệp, đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật chịu sóng gió cấp lớn.
Từ đầu năm 2026 đến nay, các bước hiện thực hóa phương án thí điểm thành lập cụm công nghiệp nuôi trồng thủy sản trên biển đã được đẩy nhanh. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với các cơ quan chuyên môn chủ động tham mưu, xây dựng Đề án Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tập trung tại khu vực vùng lộng và vùng khơi thuộc địa bàn Cô Tô và Vân Đồn.
Mục tiêu cụ thể là quy hoạch từ 500 đến 1.000 ha mặt biển để xây dựng các phân khu chức năng theo mô hình một cụm công nghiệp trên đất liền, bao gồm: phân khu nuôi thương phẩm, phân khu dịch vụ hậu cần trực tuyến, và phân khu kết nối logistics.
Bên cạnh hai địa bàn trên, vùng biển vịnh Bái Tử Long cũng nằm trong tọa độ quy hoạch trọng điểm nhờ lợi thế diện tích mặt biển rộng lớn, được che chắn bởi các dãy đảo tự nhiên, tạo dòng chảy ổn định và môi trường nước đạt các chỉ số sinh hóa lý tưởng cho các loài thủy sản giá trị cao.
Số hóa hạ tầng khép kín và giải pháp công nghệ vật liệu chịu lực tại đặc khu Cô Tô
Minh chứng rõ nét nhất cho quyết tâm công nghiệp hóa ngành nuôi biển của Quảng Ninh là Quyết định số 1286/QĐ-UBND do UBND tỉnh ban hành vào tháng 4 vừa qua. Quyết định giao chính thức 209,8 ha khu vực biển tại đặc khu Cô Tô cho Công ty CP Mực nhảy Biển Đông để triển khai mô hình nuôi biển công nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Đây là dự án quy mô lớn đầu tiên được cấp phép dài hạn đến ngày 31/12/2050, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho doanh nghiệp an tâm đầu tư trang thiết bị thế hệ mới.
.jpg)
Ngay sau khi tiếp nhận thực địa, doanh nghiệp đã tiến hành lắp ghép các modul hạ tầng kỹ thuật đầu tiên để chuẩn bị lai dắt ra tọa độ được giao. Điểm cốt lõi của dự án này nằm ở thiết kế kỹ thuật khép kín và việc áp dụng đồng bộ các giải pháp công nghệ hiện đại bao gồm:
Hệ thống lồng nuôi chịu lực thế hệ mới: Phần lõi dự án gồm 20 hệ lồng tròn làm bằng chất liệu nhựa dẻo mật độ cao (HDPE) có đường kính lên tới 23m và 20 lồng vuông kích thước 6x6m. Loại vật liệu HDPE này có đặc tính cơ lý ưu việt, đàn hồi tốt, có khả năng triệt tiêu lực tác động của sóng lớn, bão biển và dòng chảy xiết vùng biển hở mà các loại lồng gỗ truyền thống không thể tồn tại.
Trong đó, hạ tầng điều hành tự động hóa như: Trung tâm của khu vực biển là hệ thống nhà điều hành, trạm điện nổi sử dụng năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió ngoài khơi) và hệ thống cầu nối liên kết các lồng nuôi. Mô hình vận hành áp dụng công nghệ số hóa trong quản lý lượng thức ăn, kiểm soát độ pH, oxy hòa tan và nhiệt độ nước biển theo thời gian thực thông qua hệ thống cảm biến (sensor) truyền dữ liệu về trung tâm.
Cơ cấu đối tượng nuôi đa tầng sinh thái: Doanh nghiệp tập trung vào đối tượng chủ lực là mực, kết hợp đan xen với các loài cá biển tầng giữa, nhuyễn thể tầng đáy và rong biển ở tầng mặt. Mô hình này tối ưu hóa chuỗi thức ăn tự nhiên, tự cân bằng môi trường sinh thái trong khu vực lồng nuôi và tối đa hóa sản lượng trên một đơn vị diện tích mặt nước. Sản lượng thiết kế khi dự án đạt đỉnh công suất dự kiến lên tới 670.000 tấn/năm.
Mặc dù có lợi thế về công nghệ, việc vận hành sản xuất ngoài khơi trên 6 hải lý vẫn đối mặt với những thách thức rất lớn từ thiên tai. Ông Nguyễn Bá Ngọc, Giám đốc Công ty CP Mực nhảy Biển Đông, phân tích dưới góc nhìn chuyên môn: "Môi trường biển hở chịu tác động trực tiếp từ bão lớn, sóng cao và hiện tượng dòng chảy cực đoan do biến đổi khí hậu. Nếu không làm chủ được công nghệ vật liệu lồng nuôi và kỹ thuật neo sâu, chỉ một đợt thiên tai có thể phá hủy toàn bộ cấu trúc hạ tầng kỹ thuật, dẫn đến nguy cơ mất trắng con giống và tài sản. Doanh nghiệp chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ nguồn lực tài chính và giải pháp kỹ thuật, song điều chúng tôi cần nhất lúc này là một hành lang pháp lý phân định rõ quyền tài sản trên biển để doanh nghiệp tự tin giải ngân đầu tư dài hạn."
Để tối ưu hóa chi phí vận hành cho hệ thống thiết bị công nghệ cao, Mực nhảy Biển Đông không vận hành đơn mục tiêu mà chuyển dịch sang chiến lược kinh tế biển đa mục tiêu và tuần hoàn. Trên cùng diện tích 209,8 ha, doanh nghiệp tích hợp không gian nuôi trồng với dịch vụ hậu cần nghề biển và các sản phẩm du lịch trải nghiệm cao cấp như “Du lịch biển xanh” và “Du lịch hạnh phúc”. Mô hình này cho phép khai thác nguồn thu ngắn hạn từ dịch vụ du lịch để tái cấp vốn cho hệ thống giám sát tự động và bảo dưỡng thiết bị công nghệ cao của phân khu nuôi trồng.
Được biết, chiến lược phát triển nuôi biển công nghệ cao của Quảng Ninh được xây dựng dựa trên các chỉ số định lượng rõ ràng trong Quy hoạch tỉnh. Đến năm 2030, mục tiêu sản lượng từ nuôi biển công nghiệp phải chiếm trên 75% tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân từ 8-10%/năm. Đến năm 2050, tỷ trọng đóng góp của nuôi biển công nghệ cao được kỳ vọng đạt tới 80% tổng sản lượng. Các con số này cho thấy tỉnh sẽ giảm dần tỷ trọng đánh bắt tự nhiên và nuôi ven bờ mang tính hủy diệt để chuyển hẳn sang phương thức sản xuất chủ động bằng công nghệ.
Việc dịch chuyển từ phương thức thô sơ sang các tổ hợp lồng nuôi HDPE có định vị vệ tinh và quản lý dữ liệu số hóa mang lại hai giá trị chiến lược lớn:
Về mặt kinh tế - xã hội: Dự án công nghiệp hóa nuôi biển tạo ra một chuỗi cung ứng logistics đồng bộ, từ khâu sản xuất con giống sạch bệnh, thức ăn công nghiệp đến chế biến sâu xuất khẩu. Quá trình này thay đổi hoàn toàn tập quán sản xuất của ngư dân, tạo ra làn sóng thu hút lực lượng lao động kỹ thuật trẻ, các kỹ sư thủy sản quay trở lại bám biển, tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã kiểu mới hoặc liên kết vệ tinh với các tập đoàn lớn.