Doanh nghiệp
Sửa Luật Dầu khí năm 2022, mở rộng không gian năng lượng biển
Sửa Luật Dầu khí năm 2022 cần được nhìn như bước chuẩn bị thể chế để Việt Nam chủ động hơn trong bảo đảm an ninh năng lượng, khai thác hiệu quả tài nguyên biển và đón đầu các nguồn năng lượng mới trong tương lai.
Không gian mới của năng lượng biển
Không gian biển đang trở thành một phần quan trọng trong tương lai năng lượng của nhiều quốc gia. Với Việt Nam, điều đó càng có ý nghĩa đặc biệt khi dầu khí truyền thống, điện gió ngoài khơi, khí hydrate và các dạng năng lượng biển khác đều gắn với một không gian phát triển chung: biển.
Vì vậy, sửa đổi Luật Dầu khí năm 2022 không nên chỉ được nhìn nhận như việc tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Đặt trong bối cảnh mới, đây còn là bước đi nhằm chuẩn bị khuôn khổ pháp lý hiện đại hơn cho quản trị tài nguyên năng lượng biển, bảo đảm an ninh năng lượng và mở rộng dư địa phát triển cho các ngành năng lượng tương lai.

Khái niệm “tài nguyên năng lượng” ngày nay đã rộng hơn nhiều so với dầu và khí. Vùng biển Việt Nam được đánh giá có điều kiện thuận lợi cho sự hình thành hydrat khí, hay còn gọi là băng cháy - nguồn năng lượng được nhiều chuyên gia xem là “nhiên liệu của tương lai”. Trữ lượng năng lượng chứa trong hydrat khí trên thế giới được cho là lớn hơn tổng trữ lượng dầu, khí và than đã được chứng minh.
Hiện nay, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đều đang đầu tư mạnh cho nghiên cứu và thử nghiệm khai thác nguồn năng lượng này. Nếu Việt Nam không chủ động nghiên cứu, khảo sát và chuẩn bị hành lang pháp lý từ sớm, cơ hội tiếp cận một nguồn năng lượng chiến lược trong tương lai có thể bị bỏ lỡ.
Bên cạnh đó, Việt Nam có tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm hàng đầu châu Á. Nhiều tổ chức quốc tế đánh giá tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam có thể đạt hàng trăm GW, lớn hơn nhiều lần tổng công suất nguồn điện hiện nay của đất nước.
Đáng chú ý, điện gió ngoài khơi và dầu khí không phải hai lĩnh vực tách rời. Những kinh nghiệm về khảo sát địa chất biển, thiết kế công trình ngoài khơi, vận hành thiết bị dưới biển, logistics biển, cảng chuyên dụng và dịch vụ kỹ thuật dầu khí đều có thể trở thành lợi thế để phát triển công nghiệp điện gió ngoài khơi. Đây cũng là không gian mà Petrovietnam, với nền tảng dầu khí và hệ sinh thái dịch vụ kỹ thuật ngoài khơi đã được tích lũy trong nhiều thập niên, có thể tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong giai đoạn chuyển dịch năng lượng.
Nhìn rộng hơn, biển còn có các nguồn năng lượng từ sóng biển, thủy triều, dòng hải lưu và các loại khoáng sản chiến lược dưới đáy biển phục vụ công nghiệp năng lượng tương lai. Những nguồn lực đó đặt ra yêu cầu phải có một cách tiếp cận mới đối với quản trị tài nguyên biển và năng lượng biển. Vì thế, các thể chế dầu khí hiện đại không chỉ cần đáp ứng yêu cầu của hoạt động dầu khí truyền thống, mà còn phải có khả năng thích ứng với sự phát triển của khoa học công nghệ và xu hướng năng lượng mới.
Dầu khí trong bài toán an ninh năng lượng
Song song với phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo thì có một thực tế cần nhìn nhận rõ: chuyển dịch năng lượng không có nghĩa là từ bỏ dầu khí trong một sớm một chiều. Ngay cả trong các kịch bản phát thải ròng bằng “0”, dầu khí vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhiều thập niên tới, đặc biệt là khí tự nhiên.

Khí tự nhiên hiện được xem là nhiên liệu chuyển tiếp quan trọng trong quá trình thay thế than đá, giảm phát thải carbon và bảo đảm tính ổn định của hệ thống điện. Đối với Việt Nam, các dự án khí lớn như Lô B - Ô Môn mà Petrovietnam đang triển khai không chỉ là dự án dầu khí đơn thuần, mà còn là dự án an ninh năng lượng quốc gia. Phía sau những dự án này là hàng nghìn MW điện khí, là nguồn nhiên liệu cho công nghiệp và là động lực phát triển của nhiều địa phương.
Do đó, hoàn thiện thể chế để thúc đẩy hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí cũng chính là chuẩn bị điều kiện cho quá trình chuyển dịch năng lượng diễn ra thuận lợi hơn. Bởi không có an ninh năng lượng thì không thể có chuyển dịch năng lượng thành công.
Thực tế, ngành dầu khí Việt Nam đang bước vào giai đoạn khó hơn trước rất nhiều. Các mỏ lớn từng đóng vai trò chủ lực như Bạch Hổ, Rồng, Sư Tử Đen, Đại Hùng... đã khai thác trong thời gian dài và đang suy giảm tự nhiên. Trong khi đó, các phát hiện mới ngày càng khó khăn hơn, chủ yếu nằm ở khu vực nước sâu, xa bờ hoặc có điều kiện địa chất phức tạp.
Nếu trước đây chỉ cần đầu tư vài chục triệu USD để khoan một giếng thăm dò, thì hiện nay chi phí cho một giếng khoan nước sâu có thể lên tới hàng trăm triệu USD, nhưng chưa chắc bảo đảm thành công. Đó là đặc thù của ngành dầu khí hiện đại: rủi ro lớn hơn, chi phí cao hơn, yêu cầu công nghệ phức tạp hơn và sức cạnh tranh về môi trường đầu tư cũng gay gắt hơn.
Trong bối cảnh ấy, một khung pháp lý được xây dựng cho điều kiện của nhiều năm trước khó có thể đáp ứng yêu cầu mới. Nếu thể chế không thay đổi, môi trường đầu tư không đủ sức cạnh tranh, dòng vốn quốc tế có thể dịch chuyển sang những khu vực hấp dẫn hơn. Khi hoạt động thăm dò suy giảm, hệ quả không chỉ là sản lượng dầu khí giảm, mà còn là nguy cơ suy giảm nền tảng an ninh năng lượng trong tương lai.
Thể chế cho một giai đoạn phát triển mới
Việc sửa đổi Luật Dầu khí năm 2022 phù hợp với các chủ trương, định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế biển và phát triển bền vững.

Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng. Nghị quyết đặt ra yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung, có cơ chế ưu tiên phát triển năng lượng trong nước, giảm phụ thuộc nhập khẩu, tăng cường khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng trong nước.
Đối với dầu khí, Nghị quyết 70 yêu cầu đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác tại các khu vực tiềm năng, nước sâu, xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; nâng cao hệ số thu hồi, tận thu các mỏ nhỏ, khối sót cận biên; có chiến lược chủ động, hiệu quả trong hợp tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở nước ngoài; đẩy nhanh khai thác các mỏ khí trong nước gắn với các chuỗi dự án khí điện, bảo đảm lợi ích tổng thể quốc gia.
Nghị quyết cũng đặt vấn đề tiếp tục thu hút đầu tư trong lĩnh vực lọc hóa dầu theo hướng chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm xăng dầu, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng đến xuất khẩu phù hợp nhu cầu thị trường, lộ trình dịch chuyển năng lượng; đồng thời nghiên cứu, đánh giá tiềm năng dầu khí đá phiến, khí hydrate, sớm triển khai đánh giá tổng thể và đẩy nhanh khai thác thử nghiệm.
Cùng với đó, Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định kinh tế biển phải trở thành động lực phát triển đất nước, trong đó năng lượng biển là một trong những ngành kinh tế quan trọng.
Những định hướng này cho thấy Đảng không nhìn dầu khí như một ngành khai thác tài nguyên đơn thuần, mà là một cấu phần quan trọng trong tổng thể chiến lược phát triển năng lượng và kinh tế biển quốc gia. Vì vậy, sửa đổi Luật Dầu khí năm 2022 không chỉ để giải quyết vướng mắc trước mắt, mà còn nhằm tạo khuôn khổ thể chế cho một không gian phát triển mới.
Trong hơn 50 năm đồng hành cùng đất nước, Petrovietnam đã thực hiện sứ mệnh bảo đảm “5 An”: an ninh năng lượng, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia trên biển, đồng thời góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Từ sứ mệnh đó, Petrovietnam đã khẳng định vị thế của một tập đoàn kinh tế hàng đầu đất nước với quy mô tổng tài sản hợp nhất vượt 1 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu hơn 556 nghìn tỷ đồng; bình quân nộp ngân sách 160 nghìn tỷ đồng mỗi năm trong những năm gần đây; giai đoạn 2020 - 2025 đạt lợi nhuận 316 nghìn tỷ đồng, tương đương bình quân 2,2 tỷ USD mỗi năm.
Petrovietnam cũng là doanh nghiệp duy nhất đạt nhiều giải thưởng cao quý về khoa học công nghệ, trong đó có 6 Giải thưởng Hồ Chí Minh, 4 Giải thưởng Nhà nước cùng nhiều sáng chế trong nước và quốc tế. Những thành tựu đó cho thấy năng lực, kinh nghiệm và vai trò của Petrovietnam không chỉ trong dầu khí truyền thống, mà còn trong quá trình chuẩn bị cho một không gian phát triển năng lượng rộng hơn.