Doanh nghiệp
Năng lượng tái tạo - "cú hích" mới cho kinh tế biển
Với tiềm năng điện gió ngoài khơi thuộc nhóm hàng đầu khu vực, Việt Nam đang đứng trước cơ hội hình thành những động lực tăng trưởng mới từ kinh tế biển, mở đường phát triển các ngành công nghiệp mới.
Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² cùng hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ và sở hữu tiềm năng rất lớn về phát triển kinh tế biển.

Tư duy “quản trị biển”
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, mặc dù nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành trong thời gian qua, nhưng đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân vẫn còn khiêm tốn.
Một trong những nguyên nhân quan trọng là hệ thống thể chế, chính sách quản lý và khai thác không gian biển chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới. Nhiều quy định còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, chưa tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn cho các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao.
Do đó, trong bối cảnh chuyển đổi xanh, phát triển bền vững và cạnh tranh ngày càng gay gắt trong khai thác tài nguyên biển trên thế giới, yêu cầu hoàn thiện thể chế đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi đang được kỳ vọng tạo ra khuôn khổ pháp lý mới cho quản trị biển hiện đại, qua đó khơi thông nguồn lực đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.
Đáng lưu ý, Dự thảo luật đề xuất các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đối với những ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển, hạ tầng biển dùng chung và các mô hình kinh tế biển xanh, kinh tế carbon thấp. Cùng với đó là định hướng cải cách thủ tục hành chính theo hướng liên thông, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Nhiều chuyên gia cho rằng, điểm cốt lõi của lần sửa luật này là chuyển từ tư duy “quản lý biển” sang “quản trị biển”. PGS TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam nhận định, vấn đề quan trọng hiện nay là xử lý hiệu quả các xung đột giữa quản lý và phát triển không gian biển. Theo ông, biển là không gian ba chiều với nhiều mục đích sử dụng khác nhau, do đó cần chuyển từ mô hình quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành để hài hòa lợi ích giữa các hoạt động kinh tế.
Ông cũng cho rằng quy hoạch không gian biển cần được nghiên cứu theo hướng hiện đại hơn, bắt đầu từ vùng bờ và mở rộng ra toàn bộ không gian biển, đồng thời cần làm rõ các công cụ quản lý dành cho địa phương.
Động lực bứt phá giai đoạn mới
Trong phát triển kinh tế biển, năng lượng tái tạo cụ thể là điện gió được giới chuyên gia đánh giá là lĩnh vực tiềm năng và là động lực bứt phá cho giai đoạn phát triển mới. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có thể phát triển tới 512 GW điện gió ngoài khơi. Đây là nguồn lực chiến lược để hình thành các ngành kinh tế mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị năng lượng khu vực.
“Đây không chỉ là nguồn năng lượng sạch mà còn là nền tảng để hình thành các hệ sinh thái kinh tế mới”, PGS TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định.

Đồng thời cho rằng, việc phát triển điện gió ngoài khơi sẽ tạo động lực cho nhiều ngành kinh tế liên quan như sản xuất hydrogen xanh, amoniac xanh, lưu trữ năng lượng, công nghiệp hỗ trợ và giao thông xanh.
“Nguồn điện tái tạo dồi dào cũng góp phần thúc đẩy quá trình điện hóa trong sản xuất, từ phương tiện vận tải đến máy móc nông nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp giảm phát thải, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế”, PGS TS Nguyễn Đình Thọ nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, không chỉ dừng lại ở khai thác tài nguyên hay phát triển du lịch, kinh tế biển còn mở ra không gian tăng trưởng mới thông qua việc hình thành chuỗi giá trị năng lượng tái tạo từ sản xuất, truyền tải đến lưu trữ điện. Đặc biệt, hydrogen xanh được xem là một hướng đi giàu tiềm năng khi có thể trở thành giải pháp lưu trữ năng lượng tái tạo và cung cấp nhiên liệu sạch cho giao thông vận tải, công nghiệp cùng nhiều lĩnh vực kinh tế khác trong tương lai.
“Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều quốc gia đã kết hợp hiệu quả giữa phát triển năng lượng tái tạo, bảo tồn thiên nhiên và du lịch sinh thái. Việt Nam hoàn toàn có thể nghiên cứu, áp dụng các mô hình này để vừa khai thác hiệu quả tiềm năng biển, vừa bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững. Có thể nói, nếu tận dụng tốt các cơ hội từ năng lượng tái tạo, công nghệ xanh và hợp tác quốc tế, kinh tế biển sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Việt Nam trong nhiều thập niên tới”, PGS TS Nguyễn Đình Thọ nói.
Các chuyên gia đều đồng tình, để biến tiềm năng kinh tế biển thành động lực tăng trưởng thực sự, yêu cầu đặt ra không chỉ là sửa đổi một đạo luật, mà còn là thay đổi tư duy từ quản lý sang quản trị, từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển. Khi những điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, không gian biển sẽ không chỉ là nguồn tài nguyên mà còn trở thành không gian phát triển mới cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.