Doanh nghiệp
Nông sản Việt nhắm đích tăng trưởng giữa rào cản bảo hộ
Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu nông sản đạt 74 tỷ USD năm 2026 trong tình hình các quốc gia siết chặt biện pháp phòng vệ thương mại.
Ông Phùng Văn Thành, Nguyên Tham tán Thương mại Việt Nam tại Philippines, nhận định sự thay đổi chính sách đột ngột từ các quốc gia nhập khẩu truyền thống luôn là bài toán khó cho tính ổn định của đầu ra nông sản. Sự rung lắc này diễn ra đồng thời với việc mặt hàng sầu riêng và mít liên tục nhận các cảnh báo khắt khe về chất lượng ngay từ những tháng đầu năm 2026. Các vấn đề về dư lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật đang trở thành rào cản trực diện, đe dọa sự phát triển bền vững của ngành hàng.

Ngành nông nghiệp khi xác lập mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu năm 2026 đạt từ 3,7% đến 4%, hướng tới mốc kim ngạch 74 tỷ USD. Tuy nhiên, lộ trình này đang gặp phải một lực cản mới: xu hướng bảo hộ thương mại toàn cầu. Theo ông Phùng Văn Thành, các quốc gia không còn giới hạn biện pháp phòng vệ thương mại ở các sản phẩm công nghiệp mà đã bắt đầu áp dụng rộng rãi với nông sản. Các rào cản kỹ thuật ngày càng trở nên tinh vi và khắt khe, tạo ra một môi trường kinh doanh đầy rẫy những biến số bất lợi cho doanh nghiệp nội địa.
Nhìn lại giai đoạn 5 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã có bước tiến dài khi tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ mức hơn 40 tỷ USD năm 2020 lên hơn 70 tỷ USD vào năm 2025. Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận mức xuất siêu nông sản kỷ lục đạt 20,7 tỷ USD, một con số ấn tượng nếu so sánh với tổng thặng dư thương mại của cả nước cũng ở mức 20 tỷ USD cùng năm.
Tuy vậy, thực tế tăng trưởng về số lượng đang vấp phải những điểm nghẽn về chất lượng và quản trị. Thị trường thế giới đang bị chia cắt bởi xung đột tại Ukraine, Trung Đông hay Iran, gây đứt gãy chuỗi cung ứng và đẩy chi phí vận hành lên cao. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng tại một số thị trường quốc tế trọng điểm đang có dấu hiệu suy giảm, buộc nông sản Việt phải tìm kiếm những động lực mới.
Việt Nam vẫn nắm giữ những lợi thế cạnh tranh cốt lõi để hiện diện tại 196 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Hệ thống 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết mang lại ưu đãi thuế quan vượt trội, giúp doanh nghiệp tiếp cận các thị trường lớn với chi phí thấp hơn. Vị trí địa lý giáp ranh với một thị trường lớn Trung Quốc là một ưu thế, đặc biệt đối với các mặt hàng rau quả tươi cần thời gian bảo quản ngắn và chi phí logistics tối ưu. Thực tế, thị trường Trung Quốc vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo với hơn 64% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Những mặt hàng như gạo, cà phê, hồ tiêu và hạt điều đã xác lập được vị thế hàng đầu thế giới, tạo dựng niềm tin và uy tín vững chắc với người tiêu dùng quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu 74 tỷ USD, ông Phùng Văn Thành đề xuất cần thực hiện cơ cấu lại sản phẩm sản xuất gắn liền với nhu cầu thực tế và tiêu chuẩn kỹ thuật riêng biệt của từng nước nhập khẩu. Việc thắt chặt liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ trong toàn bộ chuỗi giá trị là yêu cầu bắt buộc để tối ưu hóa lợi nhuận. Bên cạnh nhiệm vụ duy trì các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần chủ động khai thác dư địa tại những thị trường hiện hữu thông qua các hoạt động quảng bá tại hội chợ quốc tế và tận dụng triệt để ưu đãi từ EVFTA hay CPTPP.
Chiến lược đa dạng hóa thị trường cần được đẩy mạnh bằng cách tìm kiếm cơ hội tại khu vực Bắc Á như Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ văn hóa tiêu dùng. Ví dụ, thị trường Ấn Độ có thể ưa chuộng các sản phẩm chế biến hoặc đông lạnh hơn là trái cây tươi. Năng lực thích ứng và phản ứng linh hoạt của doanh nghiệp trước các biến động chính trị và thay đổi chính sách từ các bạn hàng lớn sẽ quyết định sự thành bại của mục tiêu 74 tỷ USD trong năm 2026.