Nghiên cứu - Trao đổi
Quản lý thực phẩm theo chuỗi giá trị: Cần đồng bộ từ thể chế đến dữ liệu
Để hiện thực hóa mục tiêu hướng tới mô hình quản lý toàn chuỗi giá trị, nhiều ý kiến đề nghị cần có các giải pháp đồng bộ về tiêu chuẩn, dữ liệu và hậu kiểm.
Dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi (Dự thảo) đang đề xuất chuyển mạnh từ mô hình quản lý theo từng khâu riêng lẻ sang quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm. Đây được đánh giá là bước thay đổi quan trọng trong tư duy quản lý, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Cụ thể, tại Dự thảo, Bộ Y tế đề xuất cơ chế chuyển việc quản lý an toàn thực phẩm từ “kiểm soát từng khâu riêng lẻ” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm”, bảo đảm kiểm soát chặt chẽ từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất, chế biến đến lưu thông và tiêu dùng.

Góp ý nội dung này, Hiệp hội Lương thực thực phẩm TP Hồ Chí Minh cho rằng cần làm rõ phạm vi quản lý theo chuỗi, tập trung vào các yếu tố liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm, tránh chồng chéo với các luật chuyên ngành khác.
Theo hiệp hội, Dự thảo cần tiếp tục duy trì ổn định cơ chế tự công bố sản phẩm, đồng thời khẳng định rõ đây là cơ chế doanh nghiệp tự công bố và tự chịu trách nhiệm, không làm phát sinh thủ tục hành chính trước khi đưa sản phẩm ra thị trường.
Bên cạnh đó, phạm vi tiền kiểm cần được thu hẹp theo hướng chỉ áp dụng đăng ký bản công bố sản phẩm đối với các nhóm hàng có mức độ rủi ro cao hoặc có công bố liên quan đến sức khỏe. Đối với các sản phẩm còn lại, doanh nghiệp thực hiện tự công bố theo quy định.
Để giảm chi phí tuân thủ, đơn vị này cũng đề xuất đơn giản hóa hồ sơ đăng ký, chỉ yêu cầu các tài liệu cốt lõi như tiêu chuẩn an toàn – chất lượng, phiếu kiểm nghiệm và mẫu nhãn sản phẩm. Phương pháp kiểm nghiệm không cần nộp khi công bố nhưng phải sẵn sàng cung cấp khi cơ quan chức năng yêu cầu.
Ở góc độ doanh nghiệp, Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam cho rằng việc quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm chỉ có thể đạt hiệu quả nếu được triển khai đồng bộ, liên thông giữa các cơ quan quản lý, tránh tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm.
Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các phương pháp kiểm nghiệm; công nhận các tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; nâng cao năng lực của hệ thống kiểm nghiệm và cơ quan quản lý nhà nước.
Đặc biệt, hiệp hội đề xuất xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện đại dựa trên mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm, qua đó nâng cao hiệu quả giám sát và kiểm soát chất lượng.
Theo TS Nguyễn Thái Cường, Phụ trách Viện Luật So sánh, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, điểm đột phá lớn nhất của dự thảo Luật nằm ở việc chuyển đổi từ mô hình kiểm soát hành chính truyền thống sang mô hình quản trị rủi ro dựa trên bằng chứng khoa học và dữ liệu số.
Ông cho rằng trong nhiều năm qua, công tác quản lý an toàn thực phẩm tại Việt Nam vẫn nặng về tiền kiểm, tập trung vào thủ tục cấp phép và kiểm tra trước khi sản phẩm lưu thông trên thị trường. Cách tiếp cận này tuy phù hợp trong giai đoạn đầu nhưng đang bộc lộ nhiều hạn chế như chi phí tuân thủ cao, khả năng phát hiện rủi ro thấp và khó theo kịp sự phát triển nhanh của thị trường thực phẩm hiện đại.
Việc quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến, vận chuyển đến tiêu dùng được đánh giá là phù hợp với các chuẩn mực đang áp dụng tại Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều nền kinh tế phát triển.

Tuy nhiên, để chuyển đổi thành công sang mô hình quản lý dựa trên rủi ro, Việt Nam cần đáp ứng nhiều điều kiện nền tảng. Trong đó có việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về an toàn thực phẩm; chuẩn hóa hệ thống đánh giá rủi ro theo các tiêu chuẩn quốc tế như Codex Alimentarius, HACCP, ISO 22000; đầu tư năng lực phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và công nghệ dự báo; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra, kiểm nghiệm và quản lý nhà nước.
Đồng tình về vấn đề này, TS Nguyễn Thái Cường, Phụ trách Viện Luật So sánh Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (ULAW) cho rằng, quản lý rủi ro không chỉ là thay đổi quy định pháp luật mà còn là quá trình chuyển đổi toàn diện về thể chế, công nghệ và nguồn nhân lực.
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý an toàn thực phẩm chủ yếu dựa vào cơ chế tiền kiểm với nhiều thủ tục cấp phép, kiểm tra trước khi sản phẩm lưu thông trên thị trường. Cách tiếp cận này tuy góp phần kiểm soát chất lượng sản phẩm nhưng cũng bộc lộ những hạn chế như làm tăng chi phí tuân thủ, chưa phát hiện sớm được các nguy cơ mất an toàn thực phẩm và khó thích ứng với sự phát triển nhanh của thị trường.
Dự thảo Luật lần này đã tiếp cận theo hướng quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm, từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất, chế biến, vận chuyển đến phân phối và tiêu dùng. Đây là mô hình đang được nhiều quốc gia phát triển áp dụng nhằm kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn thay vì chỉ tập trung vào các thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, để mô hình này vận hành hiệu quả, TS Nguyễn Thái Cường cho rằng Việt Nam cần đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về an toàn thực phẩm, chuẩn hóa hệ thống đánh giá rủi ro theo các tiêu chuẩn quốc tế, tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giám sát và dự báo nguy cơ, đồng thời nâng cao năng lực của đội ngũ thanh tra, kiểm nghiệm và cơ quan quản lý.
Đặc biệt, chuyên gia này nhấn mạnh dữ liệu phải trở thành nền tảng của hoạt động quản lý. Hiện nay, thông tin liên quan đến an toàn thực phẩm vẫn phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau, khiến doanh nghiệp phải kê khai nhiều lần. Do đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung theo nguyên tắc "doanh nghiệp chỉ cung cấp dữ liệu một lần", qua đó vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa giảm gánh nặng thủ tục và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.