Nghiên cứu - Trao đổi

Nghiên cứu - Trao đổi

Phát triển kinh tế biển: Cần tiếp tục tháo gỡ “điểm nghẽn” thể chế

Bài: Gia Nguyễn - Ảnh: Quốc Tuấn 23/06/2026 04:15

Để khơi thông nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế, thúc đẩy phát triển kinh tế biển, không ít ý kiến cho rằng, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về biển đã và đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Theo đó, với hơn 3.260 km bờ biển, hàng nghìn hòn đảo cùng vùng biển rộng lớn, biển không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn là cửa ngõ giao lưu quốc tế, kết nối Việt Nam với các trung tâm kinh tế năng động của thế giới.

phat-trien-kinh-te-bien-22.6.1.jpg
Sau 8 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW, nhận thức về vị trí, vai trò của biển trong phát triển đất nước ngày càng được nâng cao - Ảnh minh họa

Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển.

Thực tế, sau 8 năm triển khai thực hiện Nghị quyết này, nhận thức về vị trí, vai trò của biển trong phát triển đất nước ngày càng được nâng cao; nhiều ngành kinh tế biển như cảng biển, logistics, du lịch biển, khai thác năng lượng tái tạo, nuôi trồng thủy sản công nghệ cao đã có bước phát triển tích cực.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã nêu, tiềm năng và lợi thế biển vẫn chưa được khai thác tương xứng, đóng góp của các ngành kinh tế biển vào nền kinh tế quốc dân chưa đạt như kỳ vọng. Hệ thống hạ tầng biển còn thiếu đồng bộ; liên kết vùng ven biển còn hạn chế; nhiều nguồn lực xã hội chưa được huy động hiệu quả. Đặc biệt, một số quy định pháp luật và cơ chế chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển của các ngành kinh tế biển mới.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, để khơi thông nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế, thúc đẩy phát triển kinh tế biển, không ít ý kiến cho rằng, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về biển đã và đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

phat-trien-kinh-te-bien-22.6.2.jpg
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế để thúc đẩy phát triển kinh tế biển được cho là yêu cầu cấp thiết - Ảnh minh họa

Theo PGS TS Nguyễn Chu Hồi, Phó Chủ tịch thường trực phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam (VINAFIS), mô hình quản trị biển quốc gia hiện đại phải là mô hình “thống nhất, liên thông, tích hợp”. Hiện nay, các quy định về biển đang nằm rải rác ở nhiều luật chuyên ngành khác nhau (Luật Thủy sản, Luật Dầu khí, Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo...). Điều này tạo ra những khoảng trống pháp lý hoặc sự chồng chéo trong thực thi.

Vị này kiến nghị, cần rà soát và tiến tới xây dựng một Bộ luật cơ bản về biển của Việt Nam. Bộ luật này sẽ đóng vai trò là “luật khung”, bao hàm và thống nhất các luật hiện hành, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản trị không gian biển.

“Bên cạnh đó, việc kiện toàn mô hình quản lý Nhà nước tổng hợp về biển đảo là cực kỳ quan trọng. Cần một cơ quan có đủ thẩm quyền để điều phối liên ngành, liên vùng, giải quyết các xung đột không gian phát triển. Mô hình này phải đi đôi với việc đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu biển quốc gia tập trung, ứng dụng AI trong giám sát và dự báo để việc quản trị không còn dựa trên cảm tính mà dựa trên nền tảng khoa học dữ liệu”, PGS TS Nguyễn Chu Hồi chia sẻ.

Đồng thời cho hay, Việt Nam có tiềm năng gió biển rất lớn, đây không chỉ là nguồn năng lượng sạch mà còn là chìa khóa để đảm bảo an ninh năng lượng và thực hiện cam kết Net Zero. Bên cạnh đó, thay vì khai thác tận diệt, chúng ta phát triển kinh tế dựa trên việc phục hồi các hệ sinh thái, nuôi trồng dược liệu biển phục vụ công nghiệp y sinh, lĩnh vực có giá trị gia tăng cực cao. Đặc biệt là chuyển dịch từ đánh bắt sang dịch vụ, giảm áp lực lên nguồn lợi thủy sản đồng thời nâng cao thu nhập cho ngư dân.

Để làm được điều này, “hàm lượng trí tuệ” phải là thành tố then chốt. Việt Nam cần có những chính sách đột phá để thu hút đầu tư vào khoa học công nghệ biển, đặc biệt là các công nghệ nổi, công nghệ tự động hóa và công nghệ biển sâu. Đây chính là những “cánh tay nối dài” giúp làm chủ không gian biển quốc gia.

Đồng quan điểm, một số ý kiến cũng cho hay, trong nhiều năm qua, hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam đã từng bước được hoàn thiện với Luật Biển Việt Nam, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cùng nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý và phát triển biển đang xuất hiện nhiều vấn đề mới đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý.

Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là xây dựng cơ chế quản lý tổng hợp và thống nhất đối với không gian biển quốc gia. Bởi, nếu thiếu sự điều phối đồng bộ sẽ dẫn đến chồng chéo, xung đột lợi ích và làm giảm hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Cùng với việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, cần sớm xây dựng hành lang pháp lý cho các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, kinh tế tuần hoàn biển, kinh tế xanh, kinh tế carbon thấp, nuôi biển công nghiệp và các ngành dịch vụ biển hiện đại.

Liên quan đến phát triển kinh tế biển, tại buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36-NQ/TW mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng nghị quyết mới về kinh tế biển với tầm nhìn dài hạn, tư duy đột phá, quản trị hiện đại, để biển trở thành động lực tăng trưởng nhanh, bền vững...

Bài: Gia Nguyễn - Ảnh: Quốc Tuấn