Ô tô - Xe máy
Theo đuổi nội địa hóa ô tô: Chúng ta mong muốn đạt được điều gì?
Sau nhiều năm theo đuổi mục tiêu nội địa hóa ô tô, chúng ta thực sự mong muốn đạt được điều gì?
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định 929 QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035. Theo đó, xác định ngành ô tô là một trong lĩnh vực trọng tâm cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ. Mục tiêu nội địa hóa đến năm 2030 đạt mức 22-30%, đến năm 2035 đạt 32- 40%.
Muốn đạt được gì?
Trong “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020” ban hành năm 2002, Chính phủ đặt ra mục tiêu khá cao đối với công nghiệp hỗ trợ. Cụ thể, các loại xe du lịch phải đạt tỷ lệ nội địa hoá 20 - 25% vào năm 2005 và 40 - 45% vào năm 2010; các loại xe tải, xe buýt cao cấp đạt tỷ lệ nội địa hoá 20% vào năm 2005 và 35 - 40% vào năm 2010.

Tới năm 2014, “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035” được ban hành, Chính phủ lại đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng cho công nghiệp hỗ trợ. Theo đó, đến năm 2020, xe đến 9 chỗ đạt 30 - 40%, xe từ 10 chỗ trở lên đạt 35 - 45%, xe tải đạt 30 - 40%, xe chuyên dụng đạt 25 - 35%; đến năm 2025, xe đến 9 chỗ đạt 40 - 45%, xe từ 10 chỗ trở lên đạt 50 - 60%, xe tải đạt 45 - 55%, xe chuyên dụng đạt 40 - 45%; đến năm 2035, xe đến 9 chỗ đạt 55 - 60%, từ 10 chỗ trở lên đạt 75 - 80%, xe tải đạt 70 - 75%, xe chuyên dụng đạt 60 - 70%.
Nhưng với Quyết định 929 QĐ-TTg vừa ban hành ngày 29/5/2026, mục tiêu đặt ra cho ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô thấp hơn nhiều so với cách đây hàng thập kỷ. Câu hỏi đặt ra là: sau nhiều năm theo đuổi mục tiêu nội địa hóa, chúng ta thực sự mong đạt được điều gì?
Theo giới chuyên môn, tỷ lệ nội địa hóa không chỉ là con số đo lường tỷ trọng các nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện được sản xuất trong nước cấu thành nên một sản phẩm hoàn chỉnh. Cần coi nội địa hóa là quá trình làm chủ các công đoạn sản xuất. Những sản phẩm tạo ra phải phản ánh chính xác giá trị và năng lực công nghệ thực sự của các doanh nghiệp nội địa.
Một doanh nghiệp có thể sản xuất ra những linh kiện ô tô nhưng không chỉ là sản xuất mà còn phải làm chủ quá trình sản xuất đó. Từ việc hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, sản xuất đến tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với một quốc gia, giá trị lớn nhất của nội địa hóa chính là năng lực công nghiệp tích lũy được. Điều quan trọng không nằm ở con số bao nhiêu phần trăm mà ở chỗ quốc gia này đang nắm giữ những công nghệ, năng lực sản xuất và yếu tố quan trọng nào trong chuỗi giá trị của ngành ô tô.
Cơ hội hiếm có
Gần 30 năm qua, chính sách của Việt Nam chỉ tập trung vào bảo hộ thị trường và khuyến khích lắp ráp, nên ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô không phát triển được. Nên giờ đây phải tiếp cận từ vị thế thấp.

Ô tô điện đang được xem như một cơ hội hiếm có để các quốc gia đi sau tham gia vào ngành công nghiệp này. Trong kỷ nguyên xe điện, các lĩnh vực như: vật liệu mới, pin, hệ thống quản lý pin, điện tử, hạ tầng sạc… sẽ trở nên ngày càng quan trọng, đóng vai trò trung tâm về công nghệ. Đây là những lĩnh vực mở ra cơ hội cho các quốc gia đi sau. Cùng với đó, những năng lực công nghiệp truyền thống như cơ khí chính xác, khuôn mẫu, kim loại, nhựa, điện… vẫn tiếp tục đóng vai trò nền tảng.
Nếu không hình thành được những năng lực công nghiệp cần thiết để nắm bắt, cơ hội rồi cũng trôi qua. Điều quan trọng là năng lực cạnh tranh của toàn ngành ô tô lại phụ thuộc vào hàng nghìn các doanh nghiệp cung ứng. Chính các doanh nghiệp này mới là nền tảng quan trọng trong quá trình vươn lên. Vì vậy, để đạt được mục tiêu nội địa hóa từ 22-30% vào năm 2030 và từ 32- 40% vào năm 2035, dù là khiêm tốn, cần có chính sách hiệu quả, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển.
Những linh kiện, sản phẩm Make in VietNam sẽ không tự dưng xuất hiện. Chúng đòi hỏi phải có những chính sách dài hạn trong việc xây dựng năng lực nền tảng. Với ngành ô tô, đó là những chương trình phát triển và nâng cao năng lực nhà cung ứng; hình thành các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực; nghiên cứu phát triển, cũng như xây dựng hệ sinh thái sản xuất sâu, rộng trong nước.